Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNH VI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM HÀNH VI GIẾT NGƯỜI Có thể nói, hành vi giết người từ xa xưa, ở bất cứ quốc gia nào cũng đều coi là hành vi dã man, tàn bạo và chủ thể thực hiện hành vi này bao giờ cũng phải gánh chịu một hình phạt nghiêm khắc nhất. Bởi, một trong những quyền tự nhiên của con người là quyền được sống. Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Như vậy, mỗi con người nếu "quyền được sống" không thể đảm bảo thì các quyền con người khác cũng không thể có cơ hội thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay trong khoa học luật hình sự mới chỉ đề cập nhiều về hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người còn khái niệm độc lập về hành vi giết người vẫn chưa được nêu ra. Trước hết, chúng ta xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người. Khi xem xét hành vi giết người mặc dù về mặt lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm lại thể hiện xem xét hành vi giết người và tội giết người chỉ là một.
Trong Bộ luật hình sự của Liên bang Nga năm 1996, tại Điều 106, tội giết người được nêu ra là "hành vi cố ý giết người khác" [35, tr. 178], trong Bộ luật hình sự Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232, tội giết người được nêu "là hành vi cố ý giết người khác" [36, tr. 43], tại điều 187 trong Bộ luật hình sự bang California (Mỹ) năm 1998 tội giết người được nêu "là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp" [38, tr. Ở Việt Nam, thực tiễn có khá nhiều quan điểm tương tự về hành vi giết người với tư cách là tội giết người.
Trong khoa học pháp lý hình sự có khá nhiều 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách định nghĩa khác nhau. Có quan điểm cho rằng "Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác" [29, tr. 327] Một quan điểm khác lại cho rằng "Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác" [34, tr. Thêm một quan điểm tương tự: "Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật" [32, tr.
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, định nghĩa tội giết người là "hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác" [16, tr. Sở dĩ người viết cho rằng: Khi xem xét hành vi giết người, mặc dù về mặt lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm lại thể hiện hành vi giết người và tội giết người là một là bởi vì, nếu đưa ra những định nghĩa như ở trên về tội giết người thì về mặt nội dung các định nghĩa này hầu như không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi của chủ thể hoặc nếu có đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự thì lại không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi. Bên cạnh đó, khi diễn đạt giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng sẽ mâu thuẫn với nghĩa của từ tước đoạt được nêu trong Từ điển tiếng Việt. Việc tước đoạt là lấy cái của người khác, biến nó thành của mình.
Rõ ràng trong khi đó, chủ thể có hành vi giết người mục đích của họ không phải là và không thể biến cuộc sống của người khác thành cuộc sống của họ được mà chỉ có thể xóa bỏ quyền được sống của họ, Tước đoạt tính mạng là tước và chiếm lấy sự sống của con người, vì vậy tước đoạt đã bao hàm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng. Có quan điểm khác lại xác định giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân. Quan điểm này cũng có điểm không hợp lý ở chỗ cố ý làm chết người nhưng "ngoài ý muốn của nạn nhân". Vậy thì trong các trường hợp "Tình thế cấp thiết", ‘Sự kiện bất ngờ", "Phòng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vệ chính đáng" hay trường hợp thi hành án tử hình (thi hành một mệnh lệnh hợp pháp của nhà chức trách) sẽ mâu thuẫn.
Như vậy, có thể nhận thấy, khái niệm về hành vi giết người (được hiểu là tội giết người) là chưa thống nhất. Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, mặc dù về mặt lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm lại thể hiện hành vi giết người và tội giết người là một. Thứ hai, để phân biệt giữa khái niệm hành vi giết người và tội giết người cần phải đưa vào định nghĩa tội giết người dấu hiệu chủ thể của hành vi (năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Từ đó có thể thấy rằng khái niệm hành vi giết người sẽ rộng hơn khái niệm tội giết người.
Do vậy cần thiết phải có cách hiểu để có thể phân biệt, thống nhất về hai khái niệm này nhằm xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trong quá trình xét xử và đấu tranh phòng chống loại tội phạm có liên quan. Tuy nhiên, ở đây khi đưa ra một khái niệm phù hợp về hành vi giết người và Tội giết người, chúng ta cũng phải giải quyết một số vấn đề sau: Thứ nhất: Sự sống của con người được xác định như thế nào và từ thời điểm nào là đúng? Theo đại đa số quan điểm của các nhà luật học trong nước cho rằng: Con người với tư cách là một cơ thể sống phải được sinh ra một cách tự nhiên. Cuộc sống tự nhiên đó được xác định bắt đầu từ khi sinh ra còn sống đến khi chết đi theo đúng quy luật tự nhiên của cuộc sống. Theo hướng này thì hiểu rằng hành vi xâm hại vào thai nhi cũng như hành vi xâm hại vào một tử thi sẽ không nằm trong phạm vi của khái niệm trên.
Tất nhiên cũng phải loại trừ quy định riêng trong một số trường hợp. Ví dụ như: Người thực hiện hành vi tác động vào một xác chết nhưng vẫn nghĩ là người còn sống với ý thức muốn họ phải chết thì hành vi đó vẫn bị coi là hành vi giết người nếu có các dấu hiệu khác thoả mãn cấu thành tội phạm. Trong khoa học hình sự gọi đó là sai lầm về đối tượng tác động. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai: Phải khẳng định, hành vi giết người là hành vi xâm phạm quyền nhân thân cao quý nhất của con người là quyền được sống.
Không có quyền này thì những quyền nhân thân khác của con người trở nên vô nghĩa và cũng không có quyền này thì những quyền khác không bao giờ có cơ hội thực hiện. Hơn thế nữa, con người vừa là động lực vừa là chủ thể của xã hội cả hiện tại và tương lai. Mục tiêu bảo vệ quyền được sống của con người bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, hành vi giết người được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Từ mục đích tước bỏ quyền được sống của một con người của hành vi mà hành vi giết người thể hiện tính nguy hiểm ở những hành động hết sức dã man, tàn bạo như dùng sức mạnh vật chất tác động vào thân thể (đâm, chém, bắn,.) hay không thực hiện những hành động mà đáng ra phải làm để giữ quyền được sống đó (người mẹ không cho con bú hoặc vứt bỏ đứa trẻ dẫn đến cái chết của nó). Cần phải xác định, đã coi đó là hành vi giết người thì lỗi đó phải là lỗi cố ý. Tức là người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (cố ý trực tiếp); người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp). Như vậy, nếu hành vi gây ra cái chết cho người khác là do lỗi vô ý thì không coi đó là hành vi giết người.
Ví dụ hành vi làm chết người khác cấu thành "Tội làm chết người khác trong khi thi hành công vụ" (Điều 97 Bộ luật hình sự 1999); "Tội vô ý làm chết người" (Điều 98 Bộ luật hình sự 1999). Làm rõ lỗi của người thực hiện hành vi chính là căn cứ để xác định hành vi giết người với những hành vi không phải là hành vi giết người, mặc dù những hành vi đó gây ra hậu quả chết người một cách trực tiếp (làm chết người khi thi hành công vụ; làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;…) hoặc gián tiếp (bức tử; xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; không cứu giúp người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng;…). 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba: Khi xác định tội danh do hành vi giết người cấu thành, cũng phải xác định đến mục đích của hành vi. Nghĩa là, hành vi giết người không chỉ cấu thành các loại tội giết người với mục đích trực tiếp (tội giết người - Điều 93 Bộ luật hình sự 1999; tội giết con mới đẻ - Điều 94 Bộ luật hình sự 1999; Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - Điều 95 Bộ luật hình sự 1999; Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - Điều 96 Bộ luật hình sự 1999) mà còn cấu thành tội khác với mục đích gián tiếp (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân - Điều 84 Bộ luật hình sự 1999) khi xâm phạm quyền được sống của con người.
Đó cũng là căn cứ để phân biệt và phân hóa trách nhiệm hình sự của những loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người.