Chương I: Khái quát chung về nhãn hiệu và pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Chương II: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu và các biện pháp xử lý vi phạm theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Chương III. Thực trạng xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 1.1 Khái quát chung về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1.1 Khái niệm nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Nhãn hiệu là một trong những đối tượng khá phổ biến của quyền sở hữu công nghiệp trong cuộc sống hiện đại. Mặc dù nhãn hiệu không phải là hàng hoá nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Chúng ta có thể bắt gặp một nhãn hiệu ở bất kỳ nơi đâu thông qua truyền hình, hoạt động tiêu dùng, trên đường về nhà, thậm chí bất kỳ nơi nào trong ngôi nhà của chúng ta. Các sản phẩm mang nhãn hiệu Cola - cola, Omo, Trung Nguyên, P/S, v.
được chúng ta sử dụng khá thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. Sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường công nghiệp hoá hiện đại hoá đã cho phép các nhà sản xuất đưa ra nhiều loại sản phẩm/ dịch vụ đa dạng về kiểu dáng, chủng loại và chất lượng để người tiêu dùng lựa chọn. Cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh, nó là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường cũng làm xuất hiện những mặt trái của nó, một số chủ thể kinh doanh thiếu trung thực bằng cách sử dụng nhãn hiệu có uy tín của đối thủ cạnh tranh hòng làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn khi mua sản phẩm nếu không chú ý kỹ: các sản phẩm Pin của hãng SONY bị nhái lại nhãn hiệu thành SQNY, PUMA bị nhái thành PAMU, NIKE bị nhái thành HIKE…, hiện nay trên thị trường có đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng hơn mười loại thuốc nhái Panadol như: Pancidol, Panactol, Befadol Therpamol, Therodol… [11].
Các nhãn hiệu bị lợi dụng để nhái lại, làm giả thường là các nhãn hiệu đã tạo được thương hiệu, chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng. Điều này không những gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các doanh nghiệp chân chính mà còn gây ra các vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cho người tiêu dùng nếu đó là các sản phẩm về thuốc, dược phẩm, thực phẩm mà không đạt chuẩn chất lượng. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu chống lại các hành vi xâm phạm quyền và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu như: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20.1883 tại Paris, Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, Hiệp định TRIPs - Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ( sau đây cụm từ “Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp” được gọi tắt là “Công ước Paris”, cụm từ “Hiệp định TRIPs - Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” được gọi tắt là “Hiệp định TRIPs”, cụm từ “Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu” được gọi tắt là “Hệ thống Madrid”).
Tại Công ước Paris chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu mà chỉ quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng SHCN, Hệ thống Madrid thì thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong các điều ước quốc tế thì chỉ có Hiệp định TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu” [32].
Theo khái niệm này thì nhãn hiệu phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Hiệp định TRIPs quy định nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” khiến nó trở nên khái quát hơn, mềm dẻo và linh hoạt hơn. Các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá/ dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá/ dịch vụ của một doanh nghiệp khác.
Khái niệm nhãn hiệu tại Hiệp định TRIPs đã trở thành nguyên tắc chuẩn mực, nó mang tính mềm dẻo, linh hoạt trong pháp luật quốc tế. Tại pháp luật của các quốc gia, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp. Tại Châu Âu, xuất phát từ đặc điểm là một cộng đồng chung mà Luật về nhãn hiệu đưa ra khái niệm “nhãn hiệu cộng đồng”. Khái niệm “nhãn hiệu cộng đồng” được quy định ở điều 2, 89/104/EEC3 như sau: Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác [24].
Cũng giống như quy định tại Hiệp định TRIPs, việc sử dụng từ “bất kỳ dấu hiệu nào” của Luật về nhãn hiệu của Châu Âu làm cho khái niệm nhãn hiệu mềm dẻo và không giới hạn, trong đó khả năng phân biệt cũng được coi là điều kiện cơ bản và bắt buộc nếu một dấu hiệu muốn được đăng ký là nhãn hiệu. Tuy nhiên, khác với khái niệm được quy định trong Hiệp định TRIPs là không mô tả cách thức trình bày của một nhãn hiệu, thì mục đích của điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiện này trong Luật về nhãn hiệu của Châu Âu là nhằm chỉ ra nhãn hiệu là gì hay được nhận thức như thế nào. Theo Luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ đoạn 1127 Lanham Act, nhãn hiệu hàng hoá được giải thích như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà: (1) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó. Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ coi trọng việc sử dụng trước một nhãn hiệu của chủ thể: “được sử dụng bởi một người, hoặc được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại” và ghi nhận nguyên tắc “ quyền ưu tiên sử dụng” ( first to use)”.
Quy định trên kết hợp hai chức năng khác nhau của nhãn hiệu: thứ nhất, chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá; thứ hai, phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác. Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãn hiệu sẽ được đăng ký vào Hệ thống đăng ký gốc nếu nó có khả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác trừ khi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật: “Không có nhãn hiệu nào mà hàng hoá của người nộp đơn có khả năng phân biệt với hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc, trừ…” [19]. Như vậy, theo tinh thần của điều luật này, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho đến nay, Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế về nhãn hiệu, trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT.
Luật SHTT năm 2005 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về quyền SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước. Trong Luật SHTT của Việt Nam khái niệm nhãn hiệu được quy định trong phần giải thích từ ngữ: “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [28]. Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở thành nhãn hiệu, điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại điều 72 Luật SHTT như sau: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác” [28]. Hiệp địnhTRIPs và Luật nhãn hiệu của Châu Âu có quy định mở hơn đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” có khả năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được.