phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực SHTT Chƣơng 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chống CTKLM liên quan đến lĩnh vực sở hữu tría tuệ Chƣơng 3: Thực trạng chống CTKLM liên quan đến việc áp dụng luật SHTT 2005 và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Tổng quan về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh 1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 1. Khái niệm cạnh tranh và cạnh tranh lành mạnh Khái niệm “cạnh tranh” từ lâu đã đƣợc nhắc đến trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ cạnh tranh trong thể thao, trong kinh doanh hay trong đời sống sinh thái.
Và có thể nói, cạnh tranh là một vấn đề tất yếu của đời sống kinh tế và xã hội. Tuy nhiên nơi mà cạnh tranh diễn ra sôi nổi và khốc liệt nhất có lẽ là trong lĩnh vực kinh tế. Những mầm mống đầu tiên của cạnh tranh trong kinh tế xuất hiện ngay từ khi con ngƣời nhận thức đƣợc về giá trị vật chất và từ khi con ngƣời biết “kinh doanh”, có thể đó đơn giản chỉ là việc các ông chủ muốn quảng cáo sản phẩm của mình nhằm thu hút khách hàng để bán đƣợc nhiều hàng hóa hơn các ông chủ khác. Khái niệm cạnh tranh đƣợc hiểu khác nhau tại mỗi quốc gia và trong từng thời kì lịch sử và tùy vào hƣớng tiếp cận của các chủ thể.
Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch". Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trƣờng. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dƣới giá trị của nó nhƣng vẫn thu đƣợc lợi nhuận. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh), cạnh tranh trong cơ chế thị trƣờng đƣợc định nghĩa là "Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1), cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng. Hai tác giả này hiểu cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). Ba tác giả Mỹ khác là D.
Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi ngƣời đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng, phải có nhiều ngƣời bán và nhiều ngƣời mua. Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện thị trƣờng tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng đƣợc các đòi hỏi của thị trƣờng Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đƣợc thu nhập thực tế của ngƣời dân nƣớc đó. Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nƣớc đó đạt đƣợc những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế cao đƣợc xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu ngƣời theo thời gian”. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể thấy cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tƣợng mà chủ thể cùng hƣớng đến chiếm đoạt.
Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tƣơng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và đƣợc ngƣời mua chấp nhận. Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua đƣợc các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. - Việc cạnh tranh phải đƣợc diễn ra trong một môi trƣờng cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thống kê kinh doanh ở trên thị trƣờng.
Còn giữa ngƣời mua với ngƣời mua, hoặc giữa những ngƣời mua và ngƣời bán là các thoả thuận đƣợc thực hiện có lợi hơn cả đối với ngƣời mua. - Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định, có thể trong thời gian ngắn (từng vụ việc) hoặc thời gian dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Nhƣ vậy, qua những phân tích và các quan điểm khác nhau ở trên, chúng tôi hiểu: cạnh tranh là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm có được những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Những hiệu quả tích cực của cạnh tranh chỉ có thể phát huy đƣợc khi tất cả những chủ thể tham gia đều tuân thủ những nguyên tắc của cạnh tranh đó là cạnh tranh một cách lành mạnh.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển Black’law dictionary thì “cạnh tranh lành mạnh được hiểu là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh”. Đặc trƣng của nó là cạnh tranh bằng chính tiềm lực vốn có của doanh nghiệp; có mục đích thu hút khách hàng; không trái pháp luật và tập quán kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế lại luôn ngƣợc lại, các chủ thể lại luôn vì lợi ích cá nhân của mình mà bất chấp những nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh bằng việc thực hiện các hành vi trái với nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, hành vi này đƣợc hiểu một cách đơn giản đó là các hành vi CTKLM. Trong kinh doanh, hành vi CTKLM xâm phạm trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của các đối thủ cạnh tranh khác và cả quyền lợi chính đáng của ngƣời tiêu dùng.
Đây chính là lí do thị trƣờng cạnh tranh lành mạnh cần đƣợc pháp luật bảo hộ để chống lại các hành vi CTKLM đó. Và hiển nhiên, chủ thể cần đƣợc bảo hộ trƣớc các hành vi CTKLM ở đây là các doanh nhân trung thực và ngƣời tiêu dùng. Vì lẽ đó nên pháp luật chống CTKLM ra đời. Đặc điểm của cạnh tranh Sản phẩm của nền kinh tế thị trƣờng chính là cạnh tranh.
Cạnh tranh chính là linh hồn và là động lực phát triển của thị trƣờng. Xuất phát từ vần đề bản chất của cạnh tranh, chúng ta có thể mô tả cạnh tranh vởi 3 đặc điểm chính là : Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh Với tƣ cách là một hiện tƣợng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây: - Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trƣờng, đòi hỏi phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trƣờng. Một khi trong 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một thị trƣờng nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảy sinh và phát triển.
Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉ thuộc về một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa gì. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợi ích và tính toán khác nhau. - Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu nhƣ các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trƣờng. Tự do khế ƣớc, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển trên thƣơng trƣờng.
Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù đƣợc thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh. Khi đó, mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống nhƣ những động thái của các diễn viên đã đƣợc đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thƣơng trƣờng không đƣợc đảm bảo. Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của ngƣời tiêu dùng.
Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trƣờng, là thƣớc đo sự thành đạt và là mục đích hƣớng đến của các doanh nghiệp.