CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HANH VI BAT NAT TẠI NƠI LAM THÊM CỦA SINH VIÊN MỘT SÓ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm. Nghiên cứu ngoài nước về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm Vấn đề về bắt nạt tại nơi làm việc là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác gia tại nước ngoài. Cụ thê như: Khái niệm “bắt nạt công sở” hay bắt nạt tại nơi làm việc được đề cập đầu tiên bởi bác sĩ tâm thần người Thụy Điền Heinz Leymann vào những năm 1990 (Namie, 2003).
Ké từ đó khái niệm về bắt nat tại nơi làm việc đã nhận nhiều sự quan tâm trong giới học thuật. Một loạt những sách và bài báo cũng như nghiên cứu khoa học viết về nó đã được xuất ban bằng nhiêu thứ tiếng châu Âu. Hướng nghiên cứu do lường van dé bat nat tại nơi làm việc: Công trình nghiên cứu mang tên “Measuring workplace bullying” (Tam dich: Đo lường về bắt nạt tại nơi làm việc) của tác gia Helen Cowie va cộng sự tiễn hành năm 2002 đã chỉ ra thực tế rằng, khó khăn trong nghiên cứu về bắt nạt trong các tô chức là thiếu kỹ thuật đo lường thích hợp. Nhóm tác giả đã xem xét các phương pháp nghiên cứu hiện tại dang được sử dung dé nghiên cứu về hành vi bắt nat trong các tô chức.
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả chỉ ra rằng, phương pháp tiếp cận đa phương pháp (bao gồm cả nghiên cứu trường hợp) có thê là phương pháp nghiên cứu hữu ích cho các nhà nghiên cứu về tình trạng bắt nạt. Nghiên cứu “Workplace bullying: measurements and metrics to use in the NHS” (Tam dich: Bat nat tai noi lam viéc: Cac phép do lường và số liệu dé sử dụng trong NHS) của nhóm tác gia Prof Jan IHing, Mr Neill Thompson, Dr Paul Crampton, Mrs Charlotte Rothwell, Ms Amelia Kehoe, Dr Madeline Carter tién hanh vao vao năm 2015 - 2016 đã có gắng xác định hành vi bat nat tại nơi làm việc làm thé nào có thé tồn tại theo thời gian, từ đó chỉ ra các biện pháp dé thay đổi thực trạng bắt nạt tại nơi làm việc và cung cấp số liệu có thể phục vụ cho các ngành khác tại Anh và quốc l K te. Hướng nghiên cứu về ban chat của bat nat và các yêu to liên quan đến bat nạt tại nơi làm việc Trong một bài báo khoa hoc có tên “Automatic sources of aggression” (Tam dịch: Nguôn gốc tự động hóa của sự gây han) năm 2002 của tác giả Alexander Todorov và cộng sự, đã nghiên cứu mối liên hệ đặc biệt giữa tính tự động trong vô thức được kích hoạt bởi các yêu tô môi trường và tính gây hân ở con người. Một nghiên cứu khác của tác gia Jane Goodman và cộng sự vào năm 2007 có tên gọi “Defining workplace bullying behaviour professional lay definitions of workplace bullying” (Tam dich: Xác định hành vi bat nat công sở chuyên nghiệp đặt trong việc định nghĩa về hành vì bắt nạt công sở).
Đây là cuộc nghiên cứu với mục đích xác định một định nghĩa mới cho thuật ngữ bắt nạt tại nơi làm việc, các biêu hiện của chúng tại môi trường làm việc chuyên nghiệp và tác động tiêu cực của hành vi này đên nhân viên. Nghiên cứu “Workplace bullying and its relation with work characteristics, personality, and post-traumatic stress symptoms: an integrated model” (Tam dich: Bat nat tai noi lam viéc va moi quan hé cua no voi tinh chat công việc, cá tính va triệu chứng căng thăng sau chan thương: một mô hình tích hợp) của nhóm tác gia Cristian Balducci, Franco Fraccaroli và Wilmar B. Schaufeli được tiến hành vào khoảng năm 2009 - 2010, đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt tại nơi làm việc với tính chất công việc, cá tính và các triệu chứng căng thăng sau chấn thương. Nghiên cứu này còn đưa ra một mô hình thử nghiệm tích hợp, trong đó, yếu tố về môi trường và cá tính được xem là tiền đề của hành vi bắt nạt và triệu chứng stress sau chân thương.Zapf, Hole, Einarsen, Cooper đã cho xuất bản tập sách “Bullying and Harassment in the Workplace” (7gm dịch: Bắt nạt và Quấy rồi tại nơi làm việc) vào năm 2011.
Đây là tập sách tập hợp các nghiên cứu của chính nhóm tác giả về hành vi bắt nặt tại nơi làm việc tại các môi trường làm việc ở châu Âu và Bắc Mỹ, các nghiên cứu về hành vi quấy rối tại nơi làm việc, các lý giải nguyên nhân của hành vi bắt nạt tại nơi làm việc, các bang chứng thực nghiệm về hiện tượng bắt nạt tại nơi làm việc. Cuộc nghiên cứu “Acceptability of workplace bullying: A comparative study on six continents” (Tam dich: Viéc chap nhận bắt nat tại nơi làm việc: Một so sánh trên sáu châu lục) được tiễn hành bởi David Holman và 21 cộng sự khác năm 2013. Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi 6 châu lục dé khám phá lần đầu tiên mối liên hệ giữa yếu tố văn hóa và khả năng chấp nhận bắt nạt tại nơi làm việc. Cuộc nghiên cứu cho thay rằng nền văn hóa châu A dé chấp nhận hành vi bat nat liên quan đến công việc hơn là cụm quốc gia châu Phi, Mỹ Latinh và các quốc gia châu Phi thuộc vùng cận Sahara.
Như vậy, các nghiên cứu về tình trạng bắt nạt tại nơi làm việc luôn thu hút sự quan tâm của số đông những nhà nghiên cứu. Các nghiên cứu về bắt nạt không chỉ quan tâm tìm hiểu về tình trạng bắt nạt đang diễn ra trong các tổ chức làm việc, mà còn quan tâm đến tác động của nó đến đời sống tinh thần của nhân viên, mối quan hệ của nó với môi trường của tổ chức. Một số nghiên cứu có gắng tìm kiếm một phương pháp thích hợp dé đo lường về hiện tượng này. Các nghiên cứu đã góp phần giúp người nghiên cứu có cái nhìn trọn vẹn hơn về hiện tượng bắt nạt tại nơi làm việc.
Trong đó, có một vải nghiên cứu đã giúp người nghiên cứu thêm ý tưởng cho đề tài này, chăng hạn, việc hình thành định nghĩa mới trong đề tài, nhìn nhận các ảnh hưởng của bắt nạt đến phương diện tâm lý của nạn nhân. Nghiên cứu tại Việt Nam về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong nước đang đang dành nhiều sự quan tâm về bắt nạt, nhưng chủ yếu là hướng nghiên cứu hiện tượng bắt nạt diễn ra trong môi trường học đường. Hướng nghiên cứu bắt nạt xáy ra trong học đường Nguyễn Thị Nga ( 2011) với luận văn thạc sĩ “Tim hiểu hiện tượng bị bat nat ở học sinh phổ thông”, được tiễn hành trên học sinh cả 3 cấp học từ tiéu học đến trung học phô thông. Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh trung học phổ thông bị bat nat chiếm tỉ lệ khá lớn, và hình thức biểu hiện lẫn mức độ của hiện tượng bị bat nat thay đổi theo từng độ tuổi, cấp học.
Nguyễn Thị Duyên với đề tài “Học sinh bắt nạt học sinh: Thực trạng và giải pháp” được tiến hành trong vòng 1.5 năm trên học sinh cấp 2. Kết quả nghiên cứu tìm hiểu mức độ và hình thức của hành vi bat nat học sinh; địa điểm các em bị bắt nat và cảm xúc - thái độ - phản ứng của các em khi đối diện với hành vi bắt nạt. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Duyên “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phô thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, được tiến hành trong vòng 6 tháng (từ 09/2011 đến 02/2012) trên khách thể nghiên cứu là 303 học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu cho thấy hiện tượng bắt nạt bao gồm cả bắt nat và bi bat nat có tương quan với nhân cách hoc sinh, có sự khác nhau giữa nhân cách thủ phạm và nhân cách học sinh.
Nghiên cứu này không dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng mà bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về bắt nạt thông qua tìm hiểu mối liên hệ giữ bắt nạt với đặc điểm nhân cách. Trần Văn Công và cộng sự (2015) tìm hiểu mối quan hệ giữa bắt nạt trực tuyến và cách ứng phó của học sinh trung học khi các em bị bắt nạt trực tuyến được trình bày trong bài báo khoa học “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến”. Nghiên cứu được thực hiện trên 736 học sinh của 8 trường THCS và THPT ở Hà Nội, Hà Nam và Hải Dương. Kết quả cho thấy 183 học sinh (chiếm 24% tổng số khách thể nghiên cứu) là nạn nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến.
Mức độ và hình thức bị bắt nạt ở nạn nhân có sự khác biệt xét về mặt giới tính, khu vực sống, độ 10 tuôi và câp học. Nạn nhân thường ít chia sẻ việc mình bị bắt nạt, và lảng tránh vân đê này, tuy vậy các em nhận thức được sự nghiêm trọng của bat nat trực tuyên, coi đó không phải chuyện bình thường chỉ xảy ra trên mạng. Lê Thị Hải Hà và cộng sự ( 2016) với nghiên cứu “Giá trị và độ tin cậy của thang đo bị bắt nạt học đường và qua mạng: Kết quả nghiên cứu với học sinh đô thị Hà Nội và Hải Dương”. Nghiên cứu khảo sát bằng bảng hỏi tự điền với 1.424 học sinh phô thông cơ sở và phổ thông trung học ở Hà Nội và Hai Dương năm 2014, bảng hỏi được tham khảo từ bộ câu hỏi của Olweus và Ybarra.
Kết quả khang định bang hỏi đảm bảo chất lượng Tran Văn Công (2017) thực hiện nghiên cứu “Thực trạng bat nat học sinh ở Việt Nam” trên 955 học sinh của 7 trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bản nội và ngoại thành Hà Nội, độ tuổi trung bình là 11,3. Kết quả cho thấy 344 học sinh (chiếm 36% tổng số khách thé nghiên cứu) thường xuyên bị bat nat bởi ít nhất một loại hình. Trong đó, có 122 em (chiếm 12,8% tổng số khách thể nghiên cứu) bị bắt nạt bởi 2 đến 5 hình thức. Đề tài cũng nêu ra một số yếu tố có ý nghĩa dự đoán mức độ học sinh khi bị bắt nạt ở từng loại hình khác nhau.
Tóm lại, hướng nghiên cứu về bắt nạt học đường tập trung nghiên cứu về mức độ bị bắt nat, hình thức biểu hiện của bat nat, phản ứng với hành vi bắt nat, mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt với nhân cách học sinh, đã cung cấp một số hiểu biết về bắt nạt học đường về lý luận và thực trạng bắt nạt học đường hiện nay.