Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Bến Tre là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Bến Tre với tổng diện tích tự nhiên 6.749 ha và quy mô dân số khoảng 117.700 người thuộc 17 đơn vị hành chính cấp xã, phường. Trong giai đoạn 2015 - 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố ghi nhận nhiều bước phát triển vượt bậc, kéo theo chuyển biến rõ rệt trong công tác an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn đã giảm ấn tượng từ mức 2,34% năm 2016 xuống còn 1,38% vào cuối năm 2018 với 476 hộ nghèo. Tuy nhiên, sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa khu vực đô thị và nông thôn ven đô, cùng với sự thiếu hụt các điều kiện sống cơ bản, đang đặt ra thách thức lớn cho tiến trình phát triển công bằng xã hội.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để phân bổ nguồn lực giảm nghèo có hạn vào đúng các nhân tố đòn bẩy nhằm mang lại hiệu quả bền vững nhất? Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá thực trạng nghèo theo chuẩn đa chiều, lượng hóa tác động của các thành tố thuộc nguồn vốn con người đến xác suất nghèo của hộ gia đình, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi cho địa phương. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 17 xã, phường trong giai đoạn 2015 - 2018. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bằng chứng định lượng chính xác, chứng minh rằng nâng cao chất lượng vốn con người là chìa khóa then chốt để kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo đô thị về mức bền vững dưới 1,0%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) của Gary Becker (1964) và Jacob Mincer (1981). Theo đó, vốn con người bao gồm tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thể lực; việc đầu tư tích lũy vào giáo dục và chăm sóc sức khỏe sẽ trực tiếp làm tăng năng suất lao động, mang lại thu nhập cao hơn cho cá nhân và hộ gia đình. Nghiên cứu cũng kết hợp khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của Scoones (1998) và Karim Hassein (2002), xác định vốn con người là tài sản quan trọng nhất trong ngũ giác sinh kế, quyết định năng lực khai thác các nguồn vốn tài chính, vật chất, tự nhiên và xã hội.

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng các khái niệm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối của Đinh Phi Hổ (2006) và chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn nghèo thành thị được xác định qua hai tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người từ đủ 900.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc thu nhập trên 900.000 đồng kết hợp thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch/vệ sinh, tiếp cận thông tin). Khung phân tích định hình 4 nhóm biến độc lập về vốn con người gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của các thành viên trong gia đình, và kỹ năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp định tính và định lượng qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ tiến hành tham vấn ý kiến chuyên gia quản lý đầu ngành, phỏng vấn thử 10 hộ dân và khảo sát 20 mẫu nhằm tinh chỉnh bảng câu hỏi. Nghiên cứu chính thức thu thập dữ liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê giai đoạn 2015 - 2017 và báo cáo tổng kết của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre (2015 - 2018).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát ngẫu nhiên 200 hộ gia đình (gồm cả hộ nghèo và hộ khác nghèo) tại 17 xã, phường, kết hợp phỏng vấn sâu 17 cán bộ chuyên trách Lao động - Thương binh và Xã hội cấp cơ sở. Cỡ mẫu 200 được xác định dựa trên tiêu chuẩn nghiên cứu kinh tế lượng của Hair và cộng sự (2006) cùng Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), vượt mức tối thiểu yêu cầu là 82 quan sát (n = 50 + 8*4 biến độc lập). Tác giả lựa chọn mô hình hồi quy Binary Logistic làm công cụ phân tích chủ đạo vì biến phụ thuộc mang tính chất nhị phân (nghèo = 1; không nghèo = 0). Phương pháp này cho phép ước lượng chuẩn xác hệ số Odds Ratio (tỷ số chênh) và tính toán mức độ dịch chuyển xác suất nghèo khi một biến số vốn con người thay đổi, khắc phục hoàn toàn nhược điểm vi phạm giả định phân phối chuẩn của mô hình OLS truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng từ số liệu thống kê toàn thành phố năm 2018 với 476 hộ nghèo đã chỉ ra các đặc trưng phân loại rõ rệt. Thứ nhất, nghèo về tiêu chí thu nhập chiếm tỷ trọng chi phối với 374 hộ (chiếm 78,57%), mức thu nhập bình quân của nhóm này chỉ dao động quanh ngưỡng 900.000 đồng/người/tháng. Hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội chiếm tới 251 hộ (chiếm 52,73%), trong khi hộ nghèo thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản là 102 hộ (chiếm 21,43%).

Thứ hai, đặc trưng nhân khẩu học phản ánh sự bất bình đẳng giới sâu sắc và rủi ro sức khỏe nghiêm trọng. Chủ hộ nghèo là nữ giới chiếm tới 296 hộ (chiếm 62,18% tổng số hộ nghèo), cho thấy phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi về cơ hội việc làm và thu nhập. Đồng thời, có tới 249 hộ (chiếm 52,31%) có thành viên trong độ tuổi lao động nhưng bị bệnh tật, ốm đau thường xuyên, làm suy giảm nghiêm trọng hoặc mất hoàn toàn sức lao động.

Thứ ba, thống kê về mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản cho thấy bảo hiểm y tế là chỉ số thiếu hụt cao nhất với 102 hộ (21,43%), tiếp theo là thiếu hụt dịch vụ viễn thông với 85 hộ (17,86%), tài sản tiếp cận thông tin 60 hộ (12,61%), chất lượng nhà ở thiếu kiên cố 56 hộ (11,76%) và diện tích nhà ở dưới 8m2/người là 44 hộ (9,24%).

Thứ tư, kết quả hồi quy mô hình Binary Logistic từ 200 mẫu khảo sát khẳng định các biến vốn con người tác động có ý nghĩa thống kê ở mức 5% đến xác suất nghèo. Trình độ học vấn của chủ hộ tăng thêm một bậc học (từ tiểu học lên THCS, THPT) làm giảm tỷ số chênh rơi vào nghèo đói tới hơn 40%. Việc chủ hộ có kỹ năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất giúp hạ xác suất nghèo của hộ gia đình xuống khoảng 35% so với nhóm sản xuất thuần túy theo kinh nghiệm truyền thống.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm giải thích rõ mối liên hệ nhân quả giữa vốn con người và nghèo đói đô thị. Vòng luẩn quẩn "ít học - thiếu kỹ năng - năng suất thấp - thu nhập kém" giam giữ người nghèo trong các công việc thời vụ, bấp bênh tại khu vực nông nghiệp nông thôn và tiểu thủ công nghiệp. Khi xảy ra biến cố bệnh tật, chi phí y tế đè nặng khiến hộ gia đình phải vay mượn, bán tài sản tích lũy, dẫn đến tình trạng tái nghèo kinh niên.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công trình thực nghiệm trước đây tại Đồng bằng sông Cửu Long. Cụ thể, nghiên cứu của Hồ Duy Khải (2010) tại Tiền Giang chỉ ra 93,1% hộ nhóm nghèo nhất làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp do hạn chế học vấn; kết quả này cũng thống nhất với các nghiên cứu định lượng của Võ Tất Thắng (2004) tại Ninh Thuận và báo cáo kinh tế của Thụy Điển tại Lào (Country Economic Report, 2005) về vai trò then chốt của giáo dục và giảm tỷ lệ phụ thuộc. Dữ liệu phân tích trong luận văn có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện các chiều thiếu hụt an sinh và bảng ma trận hệ số hồi quy logistic, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để tái cấu trúc chính sách trợ cấp sang chính sách đầu tư phát triển con người.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại thành phố Bến Tre:

  • Nâng cao trình độ học vấn và đào tạo nghề thực chất: UBND thành phố Bến Tre và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp chế biến dừa và dịch vụ du lịch tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn miễn phí. Mục tiêu đạt tối thiểu 65% lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo được đào tạo nghề có chứng chỉ trong giai đoạn 2020 - 2023, ưu tiên các ngành nghề kỹ thuật ứng dụng và dịch vụ đô thị.
  • Tăng cường chăm sóc sức khỏe và phủ kín bảo hiểm y tế: Sở Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội thành phố cấp phát và hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội. Thiết lập chương trình khám chữa bệnh định kỳ tại 17 trạm y tế xã, phường nhằm tầm soát sớm bệnh tật cho 249 hộ nghèo có thành viên ốm đau dài ngày, thực hiện liên tục từ năm 2020.
  • Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và kỹ năng sản xuất: Hội Nông dân và Trung tâm Khuyến nông thành phố triển khai các mô hình tập huấn kỹ thuật canh tác bưởi da xanh, dừa xiêm xen canh công nghệ cao và kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học. Chỉ tiêu hướng tới là 80% hộ nghèo nông nghiệp tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Hưng, Bình Phú, Sơn Đông làm chủ được kỹ năng sản xuất hiện đại trong vòng 24 tháng.
  • Mở rộng tín dụng ưu đãi gắn với quản lý tài chính hộ: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng 2 Quỹ Tín dụng Nhân dân tại phường Phú Tân và xã Mỹ Thạnh An cần gia tăng hạn mức cho vay tín chấp phục vụ sản xuất kinh doanh từ 30 triệu đồng lên mức 50 - 100 triệu đồng/hộ. Kết hợp hướng dẫn phương án sử dụng vốn hiệu quả, cam kết giải ngân 100% hồ sơ đủ điều kiện trong giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý Nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND các cấp, cán bộ Sở và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư sử dụng tài liệu này làm căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch giảm nghèo đa chiều và phân bổ ngân sách an sinh xã hội chính xác.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Kinh tế: Người nghiên cứu trong các lĩnh vực Kinh tế Phát triển, Chính sách Công, Kinh tế Nông nghiệp có thể ứng dụng khung lý thuyết vốn con người, quy trình thiết kế bảng hỏi và phương pháp ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ quốc tế: Các tổ chức phát triển cộng đồng, tổ chức từ thiện và các định chế tài chính vi mô khai thác các chỉ số thiếu hụt an sinh để thiết kế các dự án tài trợ sinh kế, trao học bổng và hỗ trợ y tế trúng đối tượng.
  • Giảng viên và chuyên gia nghiên cứu kinh tế học: Sử dụng tài liệu làm bài giảng thực tế và case study điển hình về phân tích chính sách giảm nghèo đô thị tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Vốn con người tác động cụ thể như thế nào đến việc thoát nghèo của hộ gia đình? Vốn con người tác động trực tiếp qua hai kênh: nâng cao năng suất lao động và mở rộng cơ hội việc làm. Khi trình độ học vấn và tay nghề tăng lên, người lao động dễ dàng tiếp cận các công việc phi nông nghiệp có thu nhập ổn định trên 5 triệu đồng/tháng, đồng thời biết áp dụng khoa học kỹ thuật để tối ưu hóa chi phí sản xuất nông nghiệp.

Tại sao luận văn lại sử dụng chuẩn nghèo đa chiều thay vì chỉ dùng chuẩn nghèo thu nhập? Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg phản ánh toàn diện bản chất của nghèo đói. Phương pháp này không chỉ đo lường thu nhập dưới 900.000 đồng/người/tháng mà còn lượng hóa sự thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cốt lõi như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin, giúp chính sách hỗ trợ đúng nhu cầu thực tế.

Phương pháp hồi quy Binary Logistic có ưu điểm gì trong nghiên cứu này? Mô hình Binary Logistic phù hợp tuyệt đối với biến phụ thuộc nhị phân chỉ nhận hai giá trị: hộ nghèo (1) và hộ không nghèo (0). Mô hình giúp xác định chính xác tỷ số chênh Odds Ratio và đo lường sự thay đổi xác suất nghèo khi một biến số vốn con người như số năm đi học hay kỹ năng nghề nghiệp tăng thêm một đơn vị.

Vì sao phụ nữ và người bệnh tật lại chiếm tỷ lệ cao trong danh sách hộ nghèo TP. Bến Tre? Thực tế khảo sát năm 2018 ghi nhận 296 chủ hộ nghèo là phụ nữ và 249 hộ có người bệnh tật. Phụ nữ gặp rào cản về định kiến giới, thiếu kỹ năng và gánh nặng việc nhà, trong khi bệnh tật làm mất sức lao động và tạo ra gánh nặng chi phí y tế lớn, đẩy hộ gia đình vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

Các địa phương khác có thể ứng dụng bài học kinh nghiệm từ luận văn này như thế nào? Các huyện, thị xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể vận dụng mô hình liên kết ba bên: "Đào tạo nghề - Hỗ trợ y tế - Cung ứng vốn tín chấp". Mô hình chuyển dịch trọng tâm từ cứu trợ thụ động sang đầu tư phát triển vốn con người, giúp người dân chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc thực trạng giảm nghèo tại thành phố Bến Tre giai đoạn 2015 - 2018, chỉ ra tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,34% xuống 1,38% với 476 hộ nghèo còn lại.
  • Nghiên cứu chứng minh định lượng rằng trình độ học vấn, kỹ năng chuyên môn và sức khỏe là ba trụ cột vốn con người quyết định trực tiếp đến xác suất thoát nghèo của hộ dân.
  • Công trình chỉ rõ các chiều thiếu hụt lớn nhất hiện nay của người nghèo đô thị là bảo hiểm y tế (102 hộ) và tiếp cận thông tin, viễn thông (85 hộ).
  • Đóng góp quan trọng của luận văn là hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với phân kỳ thực hiện 2020 - 2025, định hướng cơ quan quản lý đầu tư trọng điểm vào giáo dục nghề nghiệp và chăm sóc y tế.
  • Các cấp chính quyền địa phương và nhà nghiên cứu cần đẩy nhanh việc số hóa cơ sở dữ liệu an sinh xã hội, chủ động áp dụng các khuyến nghị của đề tài để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững cho toàn tỉnh Bến Tre.