Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án), người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bị hại, người bào chữa…), của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội, góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS. Như vậy, TTHS là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, đụng chạm đến nhiều quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là đối với bị can, bị cáo.
Xét xử là một trong ba chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa và xét xử) và chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Tòa án. Thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, HĐXX xem xét công khai, khách quan, toàn diện kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa để đưa ra phán quyết về vụ án nhân danh Nhà nước. Vì vậy, có thể nói, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng trung tâm, vô cùng quan trọng, giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình TTHS của vụ án đó. Theo qui định của pháp luật TTHS, mỗi cấp Tòa án có một thẩm quyền xét xử nhất định đối với các vụ án hình sự.
Ngay cả đối với vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án cũng không có quyền xem xét và quyết định tất cả các vấn đề có liên quan trong vụ án mà chỉ có thể xem xét và quyết định một số vấn đề nhất định về vụ án, tức là chỉ ở một giới hạn nhất định theo qui định của pháp luật TTHS. Các quyền hạn của Tòa án chỉ được thực hiện trong 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới hạn này; nếu vượt ra ngoài giới hạn này, mọi quyết định về vụ án của Tòa án sẽ là trái pháp luật và không có giá trị pháp lý. Chính vì vậy, giới hạn xét xử là một vấn đề rất quan trọng, nó định ra phạm vi thực hiện quyền hạn của Tòa án. Theo Từ điển Tiếng Việt: "Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định không thể hoặc không được phép vượt qua" [46, tr.
405] còn "Phạm vi là khoảng được giới hạn của một hoạt động hay một cái gì" [46, tr. Như vậy, phạm vi thực chất chính là giới hạn. Hai khái niệm này có nội hàm tương đương nhau. Thực tế hiện nay, các văn bản pháp luật TTHS không đưa ra một khái niệm về giới hạn xét xử mà chỉ liệt kê những việc Tòa án được làm trong từng giai đoạn của vụ án; đồng thời, người ta cũng dùng các thuật ngữ khác nhau khi đề cập đến vấn đề này ở các giai đoạn tố tụng khác nhau như: "giới hạn xét xử sơ thẩm", "phạm vi xét xử phúc thẩm", "phạm vi giám đốc thẩm"… Cho đến nay, cũng chưa có văn bản hướng dẫn nào của cơ quan có thẩm quyền giải thích sự khác nhau giữa hai khái niệm "giới hạn xét xử" và "phạm vi xét xử".
Xuất phát từ khái niệm "giới hạn" và "phạm vi" trong Từ điển Tiếng Việt, chúng tôi cho rằng, mặc dù các nhà làm luật sử dụng thuật ngữ khác nhau nhưng không nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt về ý nghĩa. Vì vậy, về cơ bản¸"giới hạn xét xử" hay "phạm vi xét xử" được dùng với ý nghĩa giống nhau. Tuy pháp luật TTHS không đưa ra khái niệm về giới hạn xét xử nhưng chúng ta cũng có thể tìm hiểu về khái niệm này thông qua một số công trình nghiên cứu của một số tác giả. Trong luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả Trần Văn Tín có đưa ra khái niệm: "giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự là phạm vi mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép Tòa án được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án hình sự theo các qui định của pháp luật" [40, tr.
Tác giả Ngô Thị Ánh thì cho rằng: "Giới hạn xét xử là phạm vi Tòa án được 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem xét và giải quyết về vụ án" [1, tr. Như vậy, hai tác giả cùng có một cách hiểu về khái niệm "giới hạn xét xử" và chúng tôi cũng nhất trí với cách hiểu này. Theo Từ điển Luật học: "Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc" [49, tr. "Xét xử sơ thẩm (là một từ Hán - Việt) có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền" [49, tr.
Tuy nhiên, theo các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam, khái niệm này chỉ có ý nghĩa tương đối. Bởi lẽ, mặc dù phần lớn các phiên tòa sơ thẩm được tiến hành là để xét xử lần đầu tiên đối với vụ án, nhưng vẫn có những phiên tòa sơ thẩm không phải xét xử lần đầu tiên đối với vụ án, đó là những phiên tòa xét xử sơ thẩm lại do Tòa án cấp trên hủy bản án để điều tra, truy tố, xét xử lại hoặc chỉ xét xử lại. Theo Luật Tổ chức TAND và BLTTHS, thì Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu. Theo pháp luật TTHS hiện hành, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nếu thấy có đủ căn cứ thì có thể quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự sơ thẩm.
Các chứng cứ, tài liệu của vụ án do Cơ quan điều tra, VKS thu thập được trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa. Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được tranh luận, đối đáp những vấn đề của vụ án mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện. Như vậy, xét xử sơ thẩm có thể được coi là đỉnh cao của quyền lực tư pháp. Vì tại phiên tòa này, những người tiến hành tố tụng và đặc biệt là Tòa án phải đánh giá chứng cứ một cách thận trọng, khách quan, đưa ra quyết định đúng đắn và có 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sức thuyết phục nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, tuyên truyền và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho mọi công dân.
Cơ sở pháp lý làm phát sinh việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyết định truy tố của VKS hoặc quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm về việc hủy bản án để xét xử lại. Cơ sở pháp lý để xác định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong mọi trường hợp chính là nội dung truy tố của VKS. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được xét xử vụ án hình sự trong phạm vi truy tố của VKS, Tòa án không có quyền xét xử đối với những bị cáo và những hành vi mà VKS không truy tố. Từ điển Luật học đưa ra khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: "giới hạn của việc xét xử hình sự là phạm vi Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét và giải quyết về vụ án" [49, tr.
Phạm vi đó được xác định ở đâu, đến mức độ nào thì sẽ được các nhà làm luật qui định trong BLTTHS. Cụ thể Điều 196 BLTTHS năm 2003 qui định: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã ra quyết định xét xử. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố [34]. Từ khái niệm về giới hạn xét xử được ghi trong Từ điển Luật học và quy định về giới hạn xét xử tại Điều 196 BLTTHS năm 2003 chúng tôi nhận thấy: Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là phạm vi những bị cáo, những hành vi của bị cáo mà HĐXX được xét xử tại phiên tòa theo tội danh mà VKS đã truy tố và Tòa án đã ra quyết định xét xử.
Vì vậy, phạm vi này không phải là vô hạn, Tòa án không thể xét xử bất kỳ người nào, bất kỳ hành vi nào theo nhận định chủ quan của mình mà phạm vi này được hạn chế là những người và những hành vi mà VKS đã truy tố trong bản cáo trạng và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo quy 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định của BLTTHS năm 2003, Tòa án phải thực hiện chế độ hai cấp xét xử: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Đây là một qui định hoàn toàn mới so với BLTTHS năm 1988. Không còn chế độ một cấp xét xử - sơ thẩm đồng thời là chung thẩm như trước.
Điều này là một bảo đảm quan trọng cho việc tìm ra sự thật của vụ án, tạo điều kiện để Hội đồng xét xử (HĐXX) phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án. Điều 20 BLTTHS năm 2003 quy định: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm.
Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật [34]. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà bộ luật này quy định là 15 ngày đối với bị cáo, người bị hại, người có quyền và lợi ích liên quan, VKS cùng cấp… và 30 ngày đối với VKS cấp trên trực tiếp.