Chương 1. Khái quát chung về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng. Pháp luật Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng. Bất cập khi thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam và một số kiến nghị.
8 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong cuộc sống hiện đại, mỗi cá nhân, tổ chức riêng rẽ không thể tự cung ứng tất cả nhu cầu của mình. Vì vậy, sự trao đổi diễn ra và trở thành một trong những hoạt động thiết yếu giúp con người đạt được tất cả mong muốn của mình.
Lâu dần, sự trao đổi này không chỉ phát triển trong một thị trường, một quốc gia mà ngày càng được mở rộng qua nhiều lãnh thổ. Các tổ chức, doanh nghiệp muốn tồn tại, thu được lợi nhuận thì càng phải thực hiện quá trình trao đổi này hay nói cách khác là thực hiện hoạt động kinh doanh. Theo quan niệm truyền thống, kinh doanh chỉ đơn thuần là việc buôn bán nhằm sinh lời. Còn theo quan điểm hiện đại ngày nay, kinh doanh trở thành một hoạt động kinh tế đặc thù, là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận2.
Dù theo quan niệm nào, đối tượng của hoạt động kinh doanh cũng phải bao gồm tối thiểu là chủ thể kinh doanh và khách hàng. Khách hàng luôn cần hàng hóa, dịch vụ từ chủ thể kinh doanh để thỏa mãn mong muốn của mình, còn chủ thể kinh doanh cần khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ của mình để sinh lợi nhuận, duy trì sự tồn tại. Vì thế, hai chủ thể này luôn gắn bó và chịu sự ràng buộc lẫn nhau. Tương tự như vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng là cung cấp dịch vụ của mình cho khách hàng nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Tuy nhiên, hoạt động của ngân hàng lại mang những nét đặc thù riêng. Bởi lẽ, ngân hàng là một tổ chức kinh tế thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh liên quan đến tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán3. Các hoạt động kinh doanh này của 2 Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 3 Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
9 ngân hàng liên quan đến tiền tệ nên có ảnh hưởng sâu sắc đến tổng thể nền kinh tế quốc gia, hơn nữa đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống cao so với các lĩnh vực kinh doanh khác4. Vì vậy, đây là hoạt động đòi hỏi sự quan tâm, quản lý chặt chẽ từ các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thực thi các chính sách tiền tệ một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Bên cạnh đó, các hoạt động ngân hàng cũng cần được ràng buộc theo các quy tắc nhất định, do cơ quan nhà nước hoặc ngân hàng thiết lập để bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ tài chính từ ngân hàng. Những điểm đặc thù trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Như vừa phân tích ở trên, hoạt động của ngân hàng là việc kinh doanh một hoặc một số nghiệp vụ liên quan đến tiền tệ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Đây là những hoạt động kinh doanh mang tính đặc thù giúp ngân hàng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của một quốc gia. Tính đặc thù được thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, ngân hàng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Đây là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm và có tác động đến hầu hết mọi ngành nghề và mọi chủ thể khác nhau trên thị trường. Do vậy, khi bất kỳ lĩnh vực nào trong nền kinh tế có biến động xấu hoặc thay đổi bất thường thì hoạt động của ngân hàng sẽ gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, đối tượng kinh doanh của ngân hàng là các dịch vụ liên quan đến quá trình chu chuyển tiền tệ, nguồn vốn cũng như các giao dịch liên quan đến thanh toán, đo lường giá trị,… phát sinh giữa các chủ thể. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng được diễn ra một cách an toàn, chính xác luôn cần sự quản lý chặt chẽ từ các cơ quan quản lý Nhà nước. Thứ hai, hoạt động kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tín nhiệm của khách hàng. Lòng tin giúp ngân hàng dễ dàng nhận tiền gửi thường xuyên từ công chúng để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác như cho vay, chiết khấu, bao thanh toán và bảo lãnh.
Nếu lòng tin của khách hàng không còn, ngân hàng sẽ không có khả năng huy động nguồn vốn và việc cung ứng các dịch vụ khác cũng sẽ gặp khó khăn nhất định. Do vậy mà việc duy trì mối quan hệ với khách 4 Giáo trình Luật Ngân hàng, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Tái bản lần thứ nhất, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, trang 50. 10 hàng luôn là một trong những vấn đề thiết yếu mà các ngân hàng quan tâm, chú trọng. Thứ ba, hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tồn tại rất nhiều rủi ro.
Các rủi ro có thể kể đến bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động,. và một số ít rủi ro khác như rủi ro pháp lý, rủi ro quốc gia5. Những rủi ro này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào khi nền kinh tế biến động hoặc khi ngân hàng không thể huy động được nguồn vốn, người vay không trả tiền,. Điều này đòi hỏi các quy định cơ bản trong hoạt động ngân hàng phải được xây dựng theo nguyên tắc hạn chế, phân tán rủi ro6.
Tổng quan về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng 1. Thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng Chúng ta đang sống trong một thời đại thông tin, mọi hoạt động, mọi quan hệ của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Các mối quan hệ giữa người với người được duy trì nhờ vào việc chia sẻ thông tin về những điều, những việc đã, đang và sẽ xảy ra. Khi các mối quan hệ xã hội càng mở rộng thì nhu cầu trao đổi thông tin này sẽ càng cao7.
Vậy thông tin là gì? Theo nghĩa thông thường, thông tin được hiểu là tất cả sự vật, sự việc, hiện tượng mà con người nhận được từ thế giới xung quanh nhằm làm tăng sự hiểu biết của bản thân. Các thông tin này được hình thành trong quá trình quan sát thế giới xung quanh hoặc con người giao tiếp trực tiếp với nhau bằng lời nói, trong các cuộc đàm phán, thảo luận hoặc gián tiếp có được bằng các phương tiện thông tin đại chúng, trong thư từ và các dạng tài liệu khác. Đối với lĩnh vực ngân hàng, chủ thể kinh doanh - ngân hàng thường xuyên cung ứng một hoặc một số các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản8 cho khách hàng nhằm mục đích sinh lời. Để thực hiện được các hoạt động kinh doanh này một cách hiệu quả cũng như khả năng kiểm soát các giao dịch cung ứng cho khách hàng, ngân hàng phải nắm một số lượng lớn thông tin, trong đó đặc biệt là thông tin của khách hàng.
Theo nhiều 5 Joel Bessis (2012), Quản trị rủi ro trong ngân hàng, Sách dịch. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội. 6 Giáo trình Luật Ngân hàng, tlđd (4) , trang 53. 7 Đoàn Phan Tân (2001), Về khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị thông tin, Bài đăng trên tạp chí Văn Hóa – Nghệ thuật, số 3-2001.
8 Khoản 12, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017. 11 nghiên cứu, thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng là những thông tin mà ngân hàng có được thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình 9. Tuy nhiên, thông tin ấy cụ thể gồm những thông tin gì thì vẫn chưa có quy định thống nhất trong các hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới. Trong Đạo luật Ngân hàng Singapore ban hành lần đầu năm 1970, sửa đổi năm 2008, thông tin khách hàng được định nghĩa là: (a) bất kỳ thông tin nào liên quan đến, hoặc bất kỳ thông tin chi tiết nào về tài khoản của khách hàng của ngân hàng, cho dù tài khoản đó liên quan đến một khoản vay, đầu tư hay bất kỳ loại giao dịch nào khác, nhưng không bao gồm thông tin nào không thể xác định được khách hàng hoặc nhóm khách hàng; hoặc là (b) thông tin tiền gửi (bao gồm (i) bất kỳ khoản tiền gửi nào của khách hàng ở ngân hàng; (ii )tiền của khách hàng do ngân hàng quản lý; hoặc là (iii) bất kỳ ký gửi an toàn nào được duy trì bởi, hoặc bất kỳ thỏa thuận lưu ký an toàn nào được thực hiện bởi khách hàng với ngân hàng) nhưng cũng không bao gồm thông tin nào không thể xác định được khách hàng hoặc nhóm khách hàng10.
Vậy thông tin khách hàng theo quy định của các ngân hàng ở Singapore là những thông tin có khả năng xác định danh tính của một khách hàng cụ thể mà ngân hàng có được thông qua hoạt động mở tài khoản hoặc nhận tiền gửi. Những thông tin chỉ được nhắc đến mà không thể xác định danh tính của cá nhân hay tổ chức khách hàng sẽ không được xem là thông tin khách hàng.