CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CỦA VIỆC XÉT XỬ 1.1 Một số vấn đề lý luận về giới hạn của việc xét xử 1.1 Khái niệm, đặc điểm giới hạn của việc xét xử Từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1960 (Điều 97), Hiến pháp 1980 (Điều 128), Hiến pháp 1992 (Điều 127) cho đến Hiến pháp 2013 (Điều 102) đều khẳng định TA là cơ quan duy nhất được Quốc hội giao cho trực tiếp thực hiện quyền tư pháp với chức năng xét xử nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Để đảm bảo cho TA thực hiện chức năng của mình pháp luật quy định cho TA những quyền hạn cụ thể, đó là khả năng pháp lý TA được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể của vụ án trong một phạm vi, giới hạn nhất định được gọi là giới hạn của việc xét xử. Trước theo theo từ điển Luật học thì “xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ hợp lý của vụ việc từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [8, tr. Còn xét xử sơ thẩm được định nghĩa như sau: “Xét xử sơ thẩm làgiai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền (cấp xét xử thứ nhất) được thực hiện trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa xem xét, giải quyết vụ án bằng việc ra bản án quyết định bị cáo (hoặc các bị cáo) có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật” [33, tr.
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 và BLTTHS năm 2015 Tòa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TA quân sự khu vực và TA quân sự quân khu. Mỗi TA sẽ có thẩm quyền xét xử nhất định đối với các vụ 10 án hình sự và chỉ được xem xét và quyết định những vấn đề thuộc nội dung vụ án trong một mức độ hoặc phạm vi do pháp luật quy định và không được phép vượt ra ngoài giới hạn đó. Vì vậy, giới hạn của việc xét xử không chỉ xác định rõ quyền hạn của TA khi xét xử sơ thẩm mà còn đảm bảo quyền công tố và quyền bào chữa của người bị buộc tội khi xét xử. Vậy giới hạn của việc xét xử là gì? Theo Từ điển Tiếng việt “Giới hạn là là phạm vi mức độ nhất định không thể hoặc không được phép vượt qua” và “Giới hạn của việc xét xử hình sự là phạm vi Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét và giải quyết về vụ án” [22, tr.
Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất giới hạn của việc xét xử là phạm vi TA được xem xét, đánh giá bản chất của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ hợp lý của vụ việc. Trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm giới hạn của việc xét xử vẫn và vẫn chưa có sự thống nhất. Có quan điểm cho rằng giới hạn của việc xét xử là để đảm bảo nguyên tắc có truy tố mới có xét xử: "quyết định truy tố của Viện kiểm sát bằng bản cáo trạng là cơ sở pháp lý duy nhất để Toà án quyết định đưa vụ án (mà cụ thể là những người và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố ra xét xử" [38], nhưng cũng có quan điểm cho rằng giới hạn xét xử là vi phạm nguyên tắc khi xét xử "thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" và nguyên tắc "xác định sự thật của vụ án" đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự [2]. Dưới góc độ nghiên cứu, tác giả Ngô Thị Ánh chỉ định nghĩa ngắn gọn “Giới hạn xét xử có thể được hiểu là phạm vi Tòa án được xem xét và quyết định về vụ án” [1, tr.
Cũng tương tự quan điểm trên, tác giả Trần Văn Tín trong công trình nghiên cứu của mình cho rằng “Giới hạn xét xử là phạm vi mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép Tòa án được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án hình sự theo các quy định của pháp luật” [29, 11 tr. Phân tích nội hàm của các khái niệm trên có thể thấy đây là những khái niệm mang tính chung nhất, chưa thể hiện được các nội dung cụ thể của vấn đề giới hạn của việc xét xử, đặc biệt là gắn với giai đoạn xét xử sơ thẩm - giai đoạn vụ án hình sự được xét xử lần đầu tiên tại TA có thẩm quyền. Ngoài ra phạm vi mà TA sơ thẩm có thể được xem xét và giải quyết sẽ được xác định ở đâu, mức độ nào thì chưa được các khái niệm đề cập. Quy định về giới hạn của việc xét xử trong pháp luật tố tụng hình sự là đảm bảo tính xác định và định hướng cho hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, đặc biệt là xác định giới hạn của TA trong việc thực hiện quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết vụ án.
Mặt khác, quy định giới hạn xét xử còn để bảo đảm bị cáo và người bào chữa chủ động chuẩn bị chứng cứ, tranh tụng với quan điểm buộc tội của VKS.Như vậy có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về giới hạn của việc xét xử như sau: “Giới hạn của việc xét xử là phạm vi của Tòa án được xem xét, giải quyết và quyết định về chủ thể hoặc hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà Tòa án không được vượt quá khi giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm”. Từ khái niệm trên có thể rút ra ba đặc điểm về giới hạn của việc xét xử như sau: Thứ nhất, giới hạn của việc xét xử thể hiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát Theo quy định của Hiến pháp và BLTTHS năm 2015 tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và TA, VKS nói riêng đều có chung nhiệm vụ là đấu tranh, phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội và cùng có trách nhiệm đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, tôn trọng quyền và lợi ích của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội 12 chủ nghĩa. Chính từ mục đích chung đó đã hình thành nên mối quan hệ phối hợp chế ước trong tố tụng hình sự giữa VKS và TA như là một vấn đề tất yếu. Quan hệ phối hợp thể hiện ở chỗ nếu VKS làm tốt chức năng buộc tội sẽ hỗ trợ đắc lực cho chức năng xét xử của TA được đảm bảo đúng người, đúng tội tránh oan sai và ngược lại nếu TA thực hiện chức năng xét xử đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp bảo vệ pháp luật.Quan hệ chế ước thể hiện ở việc VKS là cơ quan duy nhất được trao quyền thay mặt cho Nhà nước truy tố một người ra trước toà để xét xử tuy nhiên việc kết tội lại thuộc về TA.
Nhưng mọi hoạt động xét xử của TA phải đảm bảo đúng yêu cầu là có sự truy tố của VKS thì mới được xét xử.Ngoài hoạt động giám sát của VKS còn giúp cho TA tránh được những sai sót, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [27]. Thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy rằng mối quan hệ phối hợp chế ước giữa VKS và TA chỉ được giải quyết có hiệu quả nhằm đạt được mục đích của tố tụng hình sự khi có ghi nhận và thực hiện nghiêm chỉnh quy định về giới hạn của việc xét xử trong tố tụng hình sự. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên, pháp luật tố tụng hình sự đòi hỏi trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cả hai cơ quan VKS và TA phải luôn có mối quan hệ tố tụng chặt chẽ với nhau, sau khi hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng truy tố được VKS chuyển đến mới bắt đầu quá trình TA thụ lý giải quyết. Chính vì vậy quy định về giới hạn của việc xét xử là một trong những quy định rõ nét thể hiện nội dung mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa TA và VKS trong quá trình giải quyết sơ thẩm vụ án hình sự.
Thứ hai, giới hạn của việc xét xử là sự ràng buộc đối với Tòa án về ba nội dung: chủ thể, hành vi, tội danh theo sự truy tố của Viện kiểm sát Như đã phân tích ở trên quy định về giới hạn của việc xét xử là một trong những quy định rõ nét thể hiện nội dung mối quan hệ giữa VKS và TA, bắt 13 đầu khi hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng truy tố ra trước TA được VKS chuyển đến và sau đó TA thụ lý giải quyết. Như vậy, trong việc thực hiện chức năng của mình, VKS sẽ tiến hành xem xét và quyết định việc có hay không truy tố những chủ thể (người hoặc pháp nhân) và những hành vi mà Cơ quan điều tra đã đề nghị VKS truy tố trong bản kết luận điều tra ra trước đó để TA để xét xử. Quyết định truy tố của VKS là cơ sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử của TA [10, tr. Mặc dù hiến pháp quy định TA là cơ quan duy nhất có quyền thực hiện chức năng xét xử nhưng TA không thể xét xử bất kỳ người hoặc pháp nhân nào, bất kỳ hành vi nào theo nhận định chủ quan của mình.
Giới hạn xét xử của TA sẽ được hạn chế là chủ thể, hành vi và tội danh mà VKS đã truy tố trong bản cáo trạng và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, hay nói cách khácnếu không có việc truy tố của VKS đối với những bị can ra trước TA và quyết định đưa vụ án ra xét xử thì không có việc TA xét xử đối với bị can đó.