mở đầu cho quá trình thanh toán. Người trả tiền phải xác định những điều kiện trả tiền của mình, những điều kiện đó phải phù hợp với những cam kết theo hợp đồng kinh tế hoặc theo luật định. Người trả tiền cũng có quyền khước từ chi trả hoặc khiếu nại đối với số tiền đã trả nếu các chủ thể khác vi phạm những cam kết hay luật định. - Người nhận tiền: là người được hưởng một khoản tiền nào đó do bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ sẽ nhận được các khoản tiền theo các hợp đồng hoặc khế ước vay nợ và thường đóng vai trò thụ động trong thanh toán, nghĩa là tiếp nhận tiền từ phía người trả tiền.
* Các trung gian thanh toán Các trung gian thanh toán không dùng tiền mặt gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, các tổ chức tín dụng khác … Những tổ chức này có nghĩa vụ thực hiện đúng đắn những uỷ nhiệm của khách hàng trong phạm vi số dư tiền gửi và được 50 quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền, giám sát các điều kiện thanh toán đã thoả thuận và được hưởng thù lao nhất định. Đồng thời chịu trách nhiệm liên đới với hai bên khách hàng, nếu do thiếu sót trong quá trình thanh toán gây thiệt hại cho khách hàng thì có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. * Chứng từ thanh toán Trong thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ thanh toán là những phương tiện chuyển tải những điều kiện thanh toán và làm cơ sở để thực hiện việc chi trả tiền. Các chứng từ thanh toán phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán mà Luật kế toán quy định.
Tất cả các chứng từ thanh toán của chủ thể tham gia thanh toán đều phải lập trên mẫu in sẵn do ngân hàng in và nhượng bán. Những chứng từ đó phải được lập đủ niên, viết rõ ràng, không được tẩy xoá và phải nộp vào ngân hàng theo đúng quy định. Các ngân hàng có quyền từ chối việc thanh toán hoặc không tiếp nhận các giấy tờ thanh toán trong trường hợp chủ thể thanh toán vi phạm một trong các quy định của chế độ thanh toán hiện hành. * Tài khoản thanh toán Các bên trả tiền và nhận tiền phải có tài khoản thanh toán: đây là công cụ để phản ánh việc trả tiền và nhận tiền.
Việc mở tài khoản và thực hiện thanh toán qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam, trường hợp mở tài khoản và thanh toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo quy chế quản lý ngoại hối của Chính phủ Việt Nam. * Tranh chấp và chế tài Tranh chấp và chế tài trong thanh toán chủ yếu phát sinh trong quan hệ thanh toán giữa các chủ thể thanh toán. Người mua được quyền khiếu nại và bồi thường thiệt hại khi người bán không giao hàng theo đúng hợp đồng kinh tế đã ký kết. Người bán có quyền đòi bồi thường thiệt hại khi người mua trả tiền chậm so với thời gian quy định trong hợp đồng.
Chế tài khi có vi phạm thường do ngân hàng thực hiện bằng cách trích tiền một cách cưỡng chế đối với người vi phạm. Trong trường hợp cần thiết thì chế tài do toà án kinh tế thực hiện theo thủ tục tố tụng. Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt - Thanh toán không dùng tiền mặt trực tiếp thúc đẩy quá trình vận động của vật tư, hàng hoá trong nền kinh tế, thông qua đó mà các mối quan hệ kinh tế lớn sẽ được giải quyết, nhờ vậy mà quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá được tiến hành thuận lợi hơn. - Tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt cho phép ngân hàng tập trung ngày càng nhiều các khoản vốn tiền tệ trong nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn tín dụng để đầu tư vào quá trình tái sản xuất mở rộng.
- Hình thức thanh toán này cho phép rút bớt một lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm nhiều chi phí cho xã hội (chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển tiền) tạo điều kiện làm tốt công tác quản lý tiền tệ. - Thanh toán không dùng tiền mặt cho phép kiểm soát được dễ dàng hơn tính hợp pháp của các quan hệ thanh toán trong nền kinh tế, hạn chế những thiệt hại, khắc phục ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, nội dung của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt: Hối phiếu, Séc, Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, Thẻ, Thư tín dụng, Voucher - Trình bày được quy trình thanh toán của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt - Lập được một số chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt 3. Khái niệm Các nước tham gia ký kết Công ước Gieneve năm 1930 đã nhất trí sử dụng định nghĩa hối phiếu của Luật Hối phiếu 1882 của Anh làm dẫn chiếu trong khái niệm hối phiếu của Luật điều chỉnh hối phiếu ULB (Uniform Law for Bill of Exchange).
Theo đó, khái niệm hối phiếu được diễn đạt như sau: Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này để trả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu. 52 Từ khái niệm trên, ta thấy các đối tượng trực tiếp liên quan đến hối phiếu là: - Người ký phát hối phiếu: Trong quan hệ thương mại, người ký phát hối phiếulà người xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ. Để ký phát, người đó phải ký vào góc dưới bên phải mặt trước của tờ hối phiếu. Người ký phát hối phiếu là người đầu tiên được hưởng số tiền ghi trên hối phiếu, nếu không người đó có thể chuyển nhượng hối phiếu cho người khác.
Trong trường hợp hối phiếu đã chuyển nhượng bị từ chối thanh toán, người ký phát hối phiếu phải có trách nhiệm hoàn trả tiền cho người thụ hưởng hối phiếu. - Người trả tiền hối phiếu (người bị trả tiền hối phiếu): là người nhận hối phiếu gửi tới - là người có trách nhiệm trả tiền cho hối phiếu khi đến hạn thanh toán (thông thường là người nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ). Đối với hối phiếu sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ, người trả tiền của hối phiếu lại là một ngân hàng do người nhập khẩu uỷ thác. - Người thụ hưởng hối phiếu: là người có quyền nhận số tiền ghi trên hối phiếu.
Như vậy, người thụ hưởng hối phiếu có thể là người ký phát hối phiếu, hoặc có thể là người khác do người ký phát chỉ định, hoặc do người thụ hưởng chuyển nhượng quyền hưởng lợi hối phiếu cho người hưởng lợi tiếp theo bằng thủ tục ký hậu. - Người chấp nhận hối phiếu: là người bị ký phát sau khi chấp nhận hối hiếu. - Người chuyển nhượng hối phiếu: là người chuyển quyền hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay thủ tục ký hậu. - Người bảo lãnh: là bất kỳ người nào ký tên vào hối phiếu trừ người ký phát và người bị ký phát.
Hình thức và nội dung của hối phiếu a. Hình thức - Hối phiếu phải được lập thành văn bản dưới hình thức chứng thư, gọn nhẹ, không cồng kềnh, đơn giản, rõ ràng, dễ nhận biết, mọi người có thể hiểu về nó như nhau. Cho tới nay, nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có hệ thống máy tính nối mạng rộng rãi đã xuất hiện hối phiếu với hình thức phi vật chất gọi là hối phiếu điện tử hay hối phiếu tin học. Cụ thể ở Pháp, từ năm 1973, hối phiếu tin học đã ra đời với đầy đủ các đặc điểm của một hối phiếu bằng văn bản nhưng được thanh toán tự động qua máy tính.
Hình thức này của hối phiếu đang ngày càng phổ biến và có xu hướng thay thế dần các hối phiếu bằng giấy. 53 - Luật hối phiếu các nước đều không quy định hình mẫu, kích cỡ của hối phiếu. Do vậy, hối phiếu có thể tự lập ra hoặc điền vào mẫu in sẵn. Hình mẫu của hối phiếu không quyết định giá trị pháp lý của hối phiếu.
Ở Việt Nam, hối phiếu phải được lập theo mẫu của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hối phiếu thường được in sẵn những nội dung bắt buộc phải có và để trống những chỗ cần thiết để người ký phát điền vào. Khi ký phát hối phiếu, người ký phát chỉ cần điền vào chỗ trống những nội dung cần thiết bằng cách viết tay hay đánh máy. - Ngôn ngữ trên tờ hối phiếu đươc các luật hối phiếu quy định cụ thể.
Hiện nay, ngôn ngữ phổ biến của hối phiếu sử dụng trong thanh toán quốc tế là tiếng Anh. Một hối phiếu sẽ trở thành vô giá trị nếu nó được lập bằng hai ngôn ngữ trở lên hoặc viết bằng bút chì, mức đỏ hay thứ mực dễ phai. - Hối phiếu thường được lập thành một bộ gồm hai hay nhiều bản. Mỗi bản đều phải đánh số thứ tự và đều có giá trị như nhau.
Khi thanh toán người ta thường gửi hai bản hối phiếu kế tiếp nhau đến cho người trả tiền đề phòng trường hợp mất mát, thất lạc. Người trả tiền chỉ có nghĩa vụ thanh toán cho một bản nhìn thấy đầu tiên. Khi một bản hối phiếu đã được thanh toán, các bản đến sau sẽ không còn giá trị. Pay to the order of (7)…………………the sum of (5) ………………………Value received as per our Invoice(s) No date ………………………………………………………………………………… Drawn under ………………………………………………………………………… Irrevocable Letter of Credit No …………………………………………….
……… (9), (10) ………………………………………………………………… 54 Mẫu 3-1: Hối phiếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam b. Nội dung Hối phiếu được quy định hết sức chặt chẽ về mặt nội dung. Theo ULB, một văn bản chỉ được công nhận là hối phiếu khi có đủ những yếu tố quy định dưới đây: (1) Tiêu đề của hối phiếu: Một tờ hối phiếu phải có tiêu đề hối phiếu nằm ở phía trên cùng của tờ hối phiếu. Nếu thiếu đi tiêu đề này, hối phiếu sẽ trở nên vô giá trị.
Tuy nhiên, nếu theo luật của Anh và Mỹ, một chứng từ có thể được thừa nhận là hối phiếu nếu nội dung của nó chứa đựng đầy đủ các yếu tố của hối phiếu mà không nhất thiết phải có tiêu đề Hối phiếu. (2) Số hiệu hối phiếu: là số tham chiếu của hối phiếu, do người lập hối phiếu định đoạt theo nguyên tắc lưu hồ sơ của mình.