Giáo trình xã hội học đại cương phần 1 võ tá tri vũ văn hùng đồng chủ biên

Giáo trình về xã hội học đại cương phần 1 võ tá tri vũ văn hùng đồng chủ biên, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2015

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC

1.1. Khái lược lịch sử và đối tượng nghiên cứu môn xã hội học

1.2. Phương pháp nghiên cứu môn xã hội học

1.3. Chức năng và nhiệm vụ của xã hội học

2. CHƯƠNG 2: HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI, TƯƠNG TÁC XÃ HỘI VÀ QUAN HỆ XÃ HỘI

2.1. Hành động xã hội

2.2. Tương tác xã hội

2.3. Quan hệ xã hội

3. CHƯƠNG 3: CƠ CẤU XÃ HỘI, DI ĐỘNG XÃ HỘI VÀ THIẾT CHẾ XÃ HỘI

3.1. Xã hội và cơ cấu xã hội

3.2. Bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội

3.3. Di động xã hội

3.4. Thiết chế xã hội

4. CHƯƠNG 4: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HÓA

4.1. Phân đoạn xã hội hóa

4.2. Môi trường xã hội hóa

5. CHƯƠNG 5: BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

5.1. Khái quát chung về biến đổi xã hội

5.2. Các quan điểm về biến đổi xã hội

5.3. Những nhân tố và điều kiện của sự biến đổi xã hội

5.4. Một số vấn đề biến đổi xã hội trên thế giới và Việt Nam hiện nay

6. CHƯƠNG 6: MỘT SỐ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC CHUYÊN BIỆT

6.1. Xã hội học giáo dục

6.2. Xã hội học nông thôn

6.3. Xã hội học đô thị

6.4. Xã hội học quản lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình xã hội học đại cương phần 1

Giáo trình xã hội học đại cương phần 1, do Võ Tá TriVũ Văn Hùng đồng chủ biên, là một tài liệu quan trọng trong việc giảng dạy và nghiên cứu xã hội học tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về xã hội học mà còn giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu xã hội học. Nội dung giáo trình được xây dựng dựa trên chương trình đào tạo của các trường đại học, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên.

1.1. Nội dung chính của giáo trình xã hội học đại cương

Giáo trình bao gồm nhiều chương, mỗi chương tập trung vào các khía cạnh khác nhau của xã hội học. Các chương này không chỉ giới thiệu lý thuyết mà còn cung cấp các ví dụ thực tiễn, giúp sinh viên dễ dàng áp dụng kiến thức vào thực tế.

1.2. Tầm quan trọng của giáo trình trong giảng dạy

Giáo trình này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và rèn luyện phương pháp nghiên cứu cho sinh viên. Nó giúp sinh viên phát triển kỹ năng phân tích và đánh giá các vấn đề xã hội một cách có hệ thống.

II. Những thách thức trong nghiên cứu xã hội học hiện nay

Nghiên cứu xã hội học tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, từ việc thiếu tài liệu đến việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại. Những vấn đề như biến đổi xã hội, bất bình đẳng xã hộixung đột xã hội đang ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn.

2.1. Thiếu tài liệu và nguồn lực nghiên cứu

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu tài liệu nghiên cứu chính thức và nguồn lực hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng và độ tin cậy của các nghiên cứu xã hội học.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng phương pháp nghiên cứu

Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại vào thực tiễn Việt Nam gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và xã hội. Các nhà nghiên cứu cần phải điều chỉnh phương pháp để phù hợp với bối cảnh địa phương.

III. Phương pháp nghiên cứu xã hội học hiệu quả

Để giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp, việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học là rất cần thiết. Các phương pháp này không chỉ giúp thu thập dữ liệu mà còn phân tích và đánh giá các hiện tượng xã hội một cách chính xác.

3.1. Phương pháp định tính trong nghiên cứu xã hội học

Phương pháp định tính giúp các nhà nghiên cứu hiểu sâu hơn về hành vi và quan hệ xã hội. Các kỹ thuật như phỏng vấn sâu và nhóm tập trung thường được sử dụng để thu thập thông tin chi tiết từ người tham gia.

3.2. Phương pháp định lượng trong nghiên cứu xã hội học

Phương pháp định lượng cho phép thu thập dữ liệu số và phân tích chúng bằng các công cụ thống kê. Điều này giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về các xu hướng và mẫu hành vi trong xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn của xã hội học trong đời sống

Xã hội học không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong đời sống hàng ngày. Từ việc giải quyết các vấn đề xã hội đến việc cải thiện chính sách công, xã hội học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội.

4.1. Ứng dụng trong chính sách công

Các nghiên cứu xã hội học có thể cung cấp thông tin quý giá cho các nhà hoạch định chính sách. Điều này giúp họ đưa ra các quyết định dựa trên dữ liệu và thực tiễn, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

4.2. Ứng dụng trong giáo dục và đào tạo

Xã hội học cũng có thể được áp dụng trong lĩnh vực giáo dục, giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập. Việc hiểu rõ về hành vi và động lực học tập của sinh viên sẽ giúp giáo viên thiết kế chương trình học phù hợp hơn.

V. Kết luận và tương lai của xã hội học tại Việt Nam

Xã hội học tại Việt Nam đang trên đà phát triển, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực để nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy. Tương lai của xã hội học phụ thuộc vào việc cải thiện các phương pháp nghiên cứu và tăng cường hợp tác giữa các nhà nghiên cứu.

5.1. Tăng cường hợp tác nghiên cứu

Việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu xã hội học. Điều này cũng tạo cơ hội cho việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm.

5.2. Định hướng phát triển xã hội học trong tương lai

Xã hội học cần được phát triển theo hướng hiện đại, áp dụng các công nghệ mới và phương pháp nghiên cứu tiên tiến. Điều này sẽ giúp xã hội học đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn xã hội.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề đó vào trong mối tương quan. Cơ sở của quan điểm này là mối liên hệ chằng chịt, qua lại giữa các mặt của đời sống xã hội. Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của sự vật, hiện tượng cũng như sự tác động qua lại giữa chúng với nhau. Ví dụ, một sinh viên học giỏi chưa hẳn đã là người có nhân cách tốt vì con người vốn là "tổng hòa" các quan hệ xã hội.

Việc nghiên cứu một vấn đề nào đó tách rời khỏi toàn bộ các vấn đề khác thường dẫn đến các kết luận hời hợt, thiếu sót và dĩ nhiên có độ chính xác thấp. Quan điểm toàn diện giúp chúng ta khắc phục được tính hẹp hòi, phiến diện trong nghiên cứu xã hội học. Quan điểm lịch sử - cụ thể Quan điểm lịch sử - cụ thể bắt nguồn từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần có quan điểm lịch sử - cụ thể song song với quan điểm toàn diện. 1 Lê Nin (1980), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.364 20 Lịch sử - cụ thể là việc nhận thức và xử lý các tình huống hoạt động thực tiễn cần phải xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn.

Căn cứ vào vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể để từ đó có những nhận định, giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Mọi sự vật, hiện tượng, con người và xã hội luôn vận động biến đổi nên hành vi, hành động của con người thay đổi, qua đó các giá trị chuẩn mực xã hội cũng thay đổi theo. Ví dụ, trong xã hội phong kiến ở Việt Nam trước đây con cái khi xây dựng gia đình đều do cha mẹ quyết định (cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó), nhưng ngày nay trong xã hội dân chủ, quan niệm đó đã dần được thay đổi. Quan điểm lịch sử cụ thể giúp người nghiên cứu có cách nhìn khách quan, khoa học về các nội dung của xã hội học, từ đó có cách nhìn nhận sự việc, hiện tượng, các mối quan hệ xã hội một cách hài hòa giữa "cổ xưa", hiện tại và định hướng tương lai.

Quan điểm này giúp cho các nhà nghiên cứu và quản lý xã hội tránh được tình trạng máy móc, duy ý chí. Quan điểm hệ thống Các vấn đề xã hội là các mắt xích trong hệ thống phức tạp cả về chiều dọc lẫn chiều ngang. Xét về chiều dọc, vấn đề nào đó thường là bộ phận của một vấn đề lớn hơn. Xét về chiều ngang, vấn đề nghiên cứu thường là kết quả của một số nguyên nhân, đồng thời nó lại là nguyên nhân của một kết quả xã hội khác.

Xã hội là một hệ thống trong đó các cá nhân hay nhóm xã hội là một bộ phận có sứ mệnh, vai trò, vị trí riêng. Nghiên cứu xã hội là nghiên cứu mối liên hệ gắn kết, chi phối lẫn nhau giữa các cá nhân và nhóm xã hội. Ngược lại, nghiên cứu con người hay nhóm xã hội là nghiên cứu bộ phận của hệ thống xã hội, chịu sự chi phối, điều khiển của hệ thống. Vì vậy, nghiên cứu một vấn đề xã hội nào đó phải đặt nó trong một hệ thống mà nó đang tồn tại.

Ví dụ, khi nghiên cứu công tác quản lý đối với cá nhân, bộ phận nào đó trong công ty, doanh nghiệp hay một đơn vị chúng ta thường quan tâm đến sơ đồ bộ máy tổ chức của đơn vị đó. Từ đó, chúng ta sẽ có nhiều nội dung súc tích để xem xét, khảo sát, lý giải và kết luận một cách đầy đủ, có hệ thống chặt chẽ. Quan điểm thực tiễn Xét cho cùng, phương pháp nghiên cứu xã hội học đều dựa trên cơ sở thực nghiệm, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tế, quan sát hiện tượng hoặc quá trình thực tế tìm ra cách lý giải vấn đề dựa trên các luận chứng thực tế. Khi kết luận vấn đề nào đó cũng có sự đối chiếu, so sánh với thực tế bằng phương pháp kiểm định thực tế.

Sở dĩ như vậy là vì hiện tượng và quá trình xã hội thường trừu tượng, nếu không bám sát thực tế sẽ có nhiều cách lý giải khác nhau tùy theo đối tượng nghiên cứu, góc độ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu. Ví dụ, khi điều tra các nghi can trong các vụ án người làm công tác điều tra thường yêu cầu họ "diễn lại" hành vi của mình, nếu phù hợp cơ quan điều tra mới đưa ra kết luận. Các kết quả nghiên cứu hay các mô hình không được kiểm chứng bằng thực tiễn chỉ là lý thuyết suông hay mô hình lý thuyết và không có giá trị thực tế. Chỉ có qua cọ xát, đối chiếu thực tế mới có thể chứng minh hoặc lý giải được hợp lý nhất.

Nhiều chuyên gia xã hội học đã chỉ ra một số yếu tố đặc thù khi nghiên cứu môn khoa học xã hội đặc thù này: Một là, nhìn "cái chung" thông qua "cái riêng", tìm khuôn mẫu xã hội qua thao tác cá nhân cụ thể. Hai là, nhìn "cái lạ" thông qua "cái quen", vì con người được hình thành phần nhiều từ khuôn mẫu xã hội, hành động theo khuôn mẫu xã hội. Và ba là, chủ động đặt mình trong hoàn cảnh cụ thể hoặc tách mình khỏi hoàn cảnh để kiểm nghiệm. Chẳng hạn một người bị đặt ra bên lề xã hội sẽ có cách nhìn và khả năng nhìn nhận xã hội sâu sắc hơn.

Phương pháp nghiên cứu môn xã hội học Liên quan đến thuật ngữ xã hội học, có thể có hai cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu: Phương pháp xã hội học khi nghiên cứu các lĩnh vực xã hội và phương pháp nghiên cứu môn xã hội học. Về cơ bản cả hai cách tiếp cận này đều là tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật và cách thức nghiên cứu xã hội học nhằm làm sáng tỏ bản chất, những đặc trưng, cơ cấu, xu hướng và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình xã hội. Tuy nhiên phạm vi ứng dụng, công cụ sử dụng (các phạm trù, khái niệm, chỉ tiêu.) theo các cách tiếp cận có tính chất đặc thù tùy lĩnh vực xã hội mà chúng ta nghiên cứu. 22 Trong nghiên cứu xã hội học, ngoài việc phải xác định được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, xây dựng các giả thiết khoa học, giới hạn phạm vi nghiên cứu, các tình huống.

chúng ta cần sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp và công cụ nghiên cứu. Về cơ bản có thể chia thành ba nhóm, cụ thể: a. Phương pháp phân tích tư liệu Phân tích tư liệu là xem xét các tài liệu có sẵn trong kho thông tin lưu trữ và các nguồn khác để nghiên cứu vấn đề cần thiết, không phải làm các cuộc phỏng vấn điều tra. Đây là phương pháp giúp người nghiên cứu có được những số liệu, tư liệu thứ cấp, thậm chí là những phân tích, kết luận có sẵn phục vụ cho việc nghiên cứu có luận cứ rõ ràng và ít tốn kém.

Các nguồn tư liệu này được tập hợp từ các cá nhân hay cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý (các báo cáo, số liệu thống kê.), các tổ chức chính trị xã hội. hay các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, tạp chí, internet. Về đại thể có thể quan niệm đây là phương pháp thu thập và phân tích các tư liệu thứ cấp trong nghiên cứu xã hội học. Cốt lõi của phương pháp này là sưu tầm được đúng và đầy đủ các tư liệu cần thiết cho nội dung nghiên cứu.

Muốn vậy người nghiên cứu phải xác định đúng những tư liệu cần, nguồn cung cấp tư liệu, cách khai thác tư liệu. Ví dụ, để đánh giá được xu hướng và mức độ phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay (dưới góc độ thu nhập, mức sống) chúng ta cần tư liệu nào? ở đâu? Trước đây công việc này rất khó khăn và mất rất nhiều thời gian, nhưng hiện nay công việc này dễ dàng hơn vì có nhiều nguồn thông tin. Nhưng khó khăn là phải chọn lọc đúng được những tư liệu đang cần. Phân tích tư liệu là phương pháp được dùng rất phổ biến vì không tốn chi phí và công sức điều tra, và những vấn đề không có điều kiện thuận lợi để điều tra.

Nhưng phương pháp này cũng có hạn chế vì người nghiên cứu dễ bị rối trước nguồn tư liệu quá nhiều hay độ tin cậy của nguồn tư liệu thấp, nhất là khi số liệu thống kê, báo cáo không chuẩn xác. Các phương pháp thu thập, xử lý thông tin Đây là nhóm các phương pháp cụ thể nhằm thu thập, tập hợp và xử lý thông tin ban đầu, tư liệu sơ cấp. Nhóm các phương pháp này thường gồm: 23 * Phương pháp quan sát Quan sát là phương pháp nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của tâm lý con người (hành động, cử chỉ, ngôn ngữ…) diễn ra trong sinh hoạt của con người, qua đó có thể suy ra những quá trình tâm lý bên trong. Đây là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm từ khách thể nghiên cứu thông qua các giác quan để nghe, nhìn, cảm xúc.

là công cụ quan trọng cho việc thu nhận thông tin từ thực tế. Ngoài việc sử dụng các giác quan để thu thập tài liệu, người quan sát có thể dùng máy ảnh, máy ghi âm, camera. Tùy theo mức độ chuẩn bị, cách thức, tính chất quan sát. có thể chia phương pháp quan sát làm nhiều cách.

- Về phạm vi quan sát có: Quan sát tổng hợp và quan sát chi tiết. Quan sát tổng hợp là quan sát chung phục vụ mục tiêu nghiên cứu chung, rộng, nhiều vấn đề. Quan sát chi tiết tập trung vào một hiện tượng, một hành vi. cụ thể của đối tượng nghiên cứu.

- Dựa vào mức độ chuẩn bị của quan sát người ta chia ra thành: Quan sát có chuẩn mực và quan sát không chuẩn mực. Quan sát có chuẩn mực đi vào các yếu tố có ý nghĩa nhất của các đối tượng nghiên cứu để tập trung chú ý. Thường dùng để kiểm tra kết quả nhận được của phương pháp khác hoặc để nhận thức sâu về các đối tượng. Quan sát không chuẩn mực chưa xác định các yếu tố có ý nghĩa.

Phương pháp này được dùng phổ biến cho lúc khởi đầu nghiên cứu. Quan sát không chuẩn mực là loại quan sát mà người quan sát chưa xác định được trước các yếu tố của đối tượng nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ