Giáo trình vẽ kỹ thuật nghề vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng phần 2 cđ gtvt trung ương i

Tải Giáo trình Vẽ kỹ thuật Phần 2, nghề Vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng. Tài liệu chuẩn của trường CĐ GTVT Trung ương I.

Chuyên ngành

Vẽ Kỹ Thuật Nghề Vận Hành Máy Thi Công Nền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
51
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình vẽ kỹ thuật máy thi công nền CĐ GTVT

Giáo trình vẽ kỹ thuật nghề vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng là một tài liệu cốt lõi, đặt nền móng kiến thức cho sinh viên ngành Giao thông Vận tải. Nội dung không chỉ dừng lại ở các khái niệm cơ bản mà đi sâu vào các phương pháp biểu diễn vật thể phức tạp, giúp người học đọc hiểu và tạo lập các bản vẽ kỹ thuật chuyên ngành một cách chính xác. Việc nắm vững các tiêu chuẩn, quy ước trong vẽ kỹ thuật là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo sự đồng bộ và chính xác trong thiết kế, chế tạo và vận hành. Tài liệu này nhấn mạnh vào việc ứng dụng các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), đặc biệt là các tiêu chuẩn liên quan đến hình chiếu, hình cắt và bản vẽ cơ khí. Mục tiêu chính của giáo trình là trang bị cho người học khả năng phân tích hình dạng vật thể, từ đó lựa chọn phương pháp biểu diễn phù hợp nhất. Các chương mục được cấu trúc logic, bắt đầu từ hình chiếu trục đo để tạo tư duy không gian ba chiều, sau đó đến các loại hình chiếu vuông góc để thể hiện chi tiết kích thước và cuối cùng là các loại hình cắt, mặt cắt để mô tả cấu tạo bên trong. Đây là kiến thức nền tảng không thể thiếu trong lĩnh vực vận hành máy thi công nền, nơi mà việc đọc hiểu bản vẽ thi công, bản vẽ chi tiết máy là công việc hàng ngày. Việc thành thạo các kỹ năng này giúp giảm thiểu sai sót, tối ưu hóa quá trình thi công và đảm bảo an toàn, chất lượng cho công trình. Giáo trình này là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo của CĐ GTVT Trung ương I, khẳng định chất lượng và sự chuyên sâu trong việc đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao.

1.1. Tầm quan trọng của bản vẽ kỹ thuật trong ngành thi công

Trong ngành thi công nền móng, bản vẽ kỹ thuật được xem là ngôn ngữ giao tiếp chính thức giữa các kỹ sư, giám sát và công nhân vận hành. Nó chứa đựng mọi thông tin cần thiết từ hình dạng, kích thước, vật liệu đến các yêu cầu kỹ thuật chi tiết của một chi tiết máy hay toàn bộ công trình. Việc đọc hiểu chính xác bản vẽ giúp người vận hành máy thi công nền thực hiện đúng các thao tác, đảm bảo các bộ phận được lắp đặt đúng vị trí và hoạt động hiệu quả. Ngược lại, một sai sót nhỏ trong việc diễn giải bản vẽ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, gây lãng phí tài nguyên, thời gian và thậm chí là mất an toàn lao động. Do đó, kỹ năng vẽ kỹ thuật không chỉ là một môn học mà còn là một năng lực cốt lõi quyết định sự thành công của dự án.

1.2. Mục tiêu và cấu trúc của giáo trình vẽ kỹ thuật cao đẳng

Giáo trình được thiết kế nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể: trang bị kiến thức nền tảng về các phương pháp chiếu, cung cấp kỹ năng thực hành vẽ các hình biểu diễn cơ bản và nâng cao, và rèn luyện khả năng phân tích, đọc hiểu các bản vẽ cơ khí phức tạp. Cấu trúc giáo trình được xây dựng theo lộ trình từ đơn giản đến phức tạp. Các chương đầu tập trung vào các khái niệm cơ bản như hình chiếu trục đohình chiếu vuông góc. Các chương tiếp theo đi sâu vào các kỹ thuật biểu diễn chuyên sâu hơn như hình cắt và mặt cắt, hình trích, hình rút gọn. Cuối cùng, giáo trình giới thiệu các loại bản vẽ thi công thực tế như bình đồ, trắc dọc và trắc ngang, kết nối lý thuyết với ứng dụng thực tiễn trong ngành.

II. Thách thức thường gặp khi đọc bản vẽ kỹ thuật thi công

Việc đọc và hiểu bản vẽ kỹ thuật là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi người học phải có tư duy không gian tốt và nắm vững các quy ước biểu diễn. Một trong những thách thức lớn nhất là việc hình dung vật thể ba chiều từ các hình chiếu hai chiều. Theo tài liệu, “mỗi hình chiếu vuông góc thường chỉ thể hiện được hai chiều của vật thể, nên hình vẽ thiếu tính lập thể, làm cho người đọc bản vẽ khó hình dung hình dạng của vật thể đó”. Để khắc phục nhược điểm này, hình chiếu trục đo được sử dụng để bổ sung, mang lại cái nhìn tổng quan và trực quan hơn. Một khó khăn khác là việc diễn giải các hình biểu diễn cấu tạo bên trong của vật thể. Các chi tiết máy phức tạp thường có nhiều lỗ, rãnh khuất, nếu chỉ dùng nét đứt để thể hiện sẽ khiến bản vẽ trở nên rối rắm và khó đọc. Đây là lý do tại sao phương pháp hình cắt và mặt cắt ra đời, giúp phơi bày rõ ràng kết cấu bên trong. Ngoài ra, việc làm quen với hệ thống ký hiệu, dung sai, và độ nhám bề mặt theo TCVN cũng là một thử thách. Người học cần phân biệt rõ các loại kích thước như kích thước định hình, kích thước định vị và kích thước khuôn khổ để chế tạo và kiểm tra sản phẩm một cách chính xác. Việc không nắm vững các quy ước này trong giáo trình vẽ kỹ thuật máy thi công nền sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong thực tế sản xuất và lắp ráp.

2.1. Khó khăn trong việc hình dung vật thể từ hình chiếu 2D

Chuyển đổi từ hình ảnh 2D trên giấy sang mô hình 3D trong tư duy là rào cản chính. Sinh viên thường gặp lúng túng khi phải liên kết các hình chiếu đứng, bằng, cạnh để tạo thành một khối thống nhất. Sự thiếu liên tưởng không gian này dẫn đến việc đọc sai hình dạng, vị trí tương đối giữa các bộ phận của chi tiết máy. Giáo trình đã chỉ ra rằng, cần phải rèn luyện bằng cách phân tích vật thể thành các khối hình học cơ bản, sau đó tổng hợp lại. Đây là phương pháp nền tảng để vượt qua thách thức này.

2.2. Nhầm lẫn giữa các loại hình cắt mặt cắt và ký hiệu

Đối với các vật thể có cấu tạo bên trong phức tạp, việc sử dụng hình cắt là bắt buộc. Tuy nhiên, sự đa dạng của các loại hình cắt như hình cắt đứng, hình cắt bằng, hình cắt bậc, hình cắt xoay... có thể gây nhầm lẫn. Người học cần xác định chính xác vị trí mặt phẳng cắt và hướng nhìn dựa trên các ký hiệu mũi tên và chữ cái. Theo TCVN 5-78, “để biểu diễn hình dạng bên trong của một vật thể, ta giả sử rằng dùng mặt phẳng tưởng tượng cắt qua phần cấu tạo bên trong”. Việc hiểu sai ký hiệu hoặc loại hình cắt sẽ dẫn đến diễn giải sai hoàn toàn cấu trúc bên trong của vật thể.

III. Phương pháp biểu diễn 3D Chi tiết về hình chiếu trục đo

Để khắc phục hạn chế về tính lập thể của hình chiếu vuông góc, phương pháp hình chiếu trục đo được quy định trong TCVN 11-78 như một công cụ bổ trợ hiệu quả. Khái niệm cốt lõi của phương pháp này là chiếu song song vật thể cùng với hệ tọa độ ba chiều lên một mặt phẳng hình chiếu duy nhất. Kết quả thu được là một hình ảnh ba chiều, trực quan, giúp người đọc dễ dàng hình dung hình dạng tổng thể của vật thể. Trong thực hành vẽ kỹ thuật máy thi công nền, hai loại hình chiếu trục đo được sử dụng phổ biến nhất là hình chiếu trục đo vuông góc đềuhình chiếu trục đo xiên cân. Việc lựa chọn loại hình chiếu nào phụ thuộc vào đặc điểm hình dạng của vật thể và mục đích biểu diễn. Ví dụ, với các vật thể có các mặt phức tạp, người ta thường đặt chúng song song với mặt phẳng tọa độ để giảm thiểu sự biến dạng trên hình chiếu. Giáo trình cũng hướng dẫn chi tiết về các hệ số biến dạng (p, q, r), là tỷ số giữa độ dài hình chiếu của một đoạn thẳng trên trục tọa độ và độ dài thực của nó. Hiểu rõ hệ số biến dạng giúp dựng hình chính xác và đọc đúng kích thước từ bản vẽ kỹ thuật. Nắm vững cách dựng hình chiếu trục đo là bước đầu tiên để xây dựng tư duy không gian, một kỹ năng thiết yếu cho sinh viên ngành vận hành máy thi công nền.

3.1. Phân loại hình chiếu trục đo Vuông góc và xiên

Hình chiếu trục đo được phân loại dựa trên hai tiêu chí chính: phương chiếu và hệ số biến dạng. Dựa vào phương chiếu, ta có hình chiếu trục đo vuông góc (khi phương chiếu vuông góc với mặt phẳng hình chiếu) và hình chiếu trục đo xiên (khi phương chiếu không vuông góc). Dựa vào hệ số biến dạng, ta có loại đều (p=q=r), loại cân (hai trong ba hệ số bằng nhau) và loại lệch (ba hệ số khác nhau). Trong thực tế, hai loại kết hợp phổ biến là hình chiếu trục đo vuông góc đềuhình chiếu trục đo xiên cân.

3.2. Đặc điểm hình chiếu trục đo vuông góc đều và xiên cân

Hình chiếu trục đo vuông góc đều có đặc điểm là góc giữa các trục đo bằng 120° và hệ số biến dạng theo ba trục bằng nhau (p=q=r=1), tạo ra hình ảnh cân đối nhưng có sự biến dạng đồng đều ở cả ba mặt. Ngược lại, hình chiếu trục đo xiên cân thường có trục O'z' vuông góc với O'x', góc giữa O'x' và O'y' là 135°, và hệ số biến dạng p=r=1, q=0.5. Ưu điểm của loại này là các mặt phẳng song song với mặt phẳng tọa độ xOz sẽ không bị biến dạng, rất thuận lợi khi biểu diễn các vật thể có một mặt chính phức tạp.

3.3. Các bước dựng một hình chiếu trục đo cơ bản cho vật thể

Quá trình dựng hình chiếu trục đo tuân theo một trình tự logic. Đầu tiên, cần chọn loại trục đo phù hợp (vuông góc đều hoặc xiên cân) và vẽ các trục tọa độ. Tiếp theo, vẽ một mặt của vật thể làm cơ sở, thường là mặt được đặt trùng với một mặt phẳng tọa độ. Từ các đỉnh của mặt cơ sở, kẻ các đường thẳng song song với trục đo thứ ba. Sau đó, dựa vào hệ số biến dạng để xác định độ dài các cạnh theo trục này. Cuối cùng, nối các điểm đã xác định để hoàn thiện hình vẽ, tô đậm các nét thấy và xóa các đường dựng không cần thiết. Phương pháp này đảm bảo tính chính xác và nhất quán cho bản vẽ kỹ thuật.

IV. Hướng dẫn đọc hình cắt mặt cắt trong bản vẽ cơ khí

Khi cần thể hiện cấu tạo bên trong phức tạp của chi tiết máy, hình cắt và mặt cắt là phương pháp biểu diễn không thể thay thế. Theo TCVN 5-78, hình cắt là hình biểu diễn phần còn lại của vật thể sau khi tưởng tượng dùng một mặt phẳng cắt qua. Phần vật liệu bị mặt phẳng cắt đi qua sẽ được ký hiệu bằng các đường gạch gạch. Việc đọc hiểu chính xác hình cắt đòi hỏi người học phải xác định được vị trí của mặt phẳng cắt và hướng nhìn. Thông tin này được thể hiện bằng nét cắt và mũi tên kèm theo chữ cái in hoa ở hai đầu. Phía trên hình cắt tương ứng sẽ có ghi chú, ví dụ “A-A”. Trong trường hợp mặt phẳng cắt trùng với mặt phẳng đối xứng của vật thể, các ghi chú này có thể được lược bỏ. Một điểm quan trọng cần lưu ý là quy ước không vẽ ký hiệu vật liệu trên các thành phần như nan hoa, gân tăng cứng khi bị cắt dọc, nhằm tránh gây hiểu nhầm về kết cấu của chúng. Kỹ năng đọc hình cắt là một phần trọng tâm của giáo trình vẽ kỹ thuật máy thi công nền, giúp sinh viên phân tích sâu hơn về cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các bộ phận máy móc, một yêu cầu cơ bản đối với người vận hành máy thi công nền.

4.1. Phân biệt giữa hình cắt và mặt cắt theo TCVN 5 78

Sự khác biệt cơ bản giữa hình cắtmặt cắt nằm ở phạm vi biểu diễn. Hình cắt biểu diễn cả phần vật thể nằm sau mặt phẳng cắt, cho thấy mối liên hệ giữa phần bị cắt và các phần còn lại. Trong khi đó, mặt cắt chỉ biểu diễn phần vật thể tiếp xúc trực tiếp với mặt phẳng cắt. Theo tài liệu, “nếu chỉ vẽ phần của vật thể tiếp xúc với mặt phẳng cắt mà không vẽ phần vật thể ở phía sau mặt phẳng cắt thì hình biểu diễn đó gọi là mặt cắt”. Mặt cắt được chia thành hai loại: mặt cắt rời (đặt bên ngoài hình chiếu) và mặt cắt chập (đặt ngay trên hình chiếu).

4.2. Các loại hình cắt phổ biến Hình cắt bậc và hình cắt xoay

Để thể hiện các chi tiết bên trong không nằm trên cùng một mặt phẳng, người ta sử dụng các hình cắt phức tạp. Hình cắt bậc sử dụng nhiều mặt phẳng cắt song song với nhau, giúp biểu diễn đồng thời nhiều yếu tố như lỗ, rãnh ở các vị trí khác nhau. Hình cắt xoay sử dụng các mặt phẳng cắt giao nhau, thường dùng cho các vật thể có các bộ phận đối xứng qua một tâm. Cả hai loại hình cắt này đều yêu cầu phải có ghi chú đầy đủ về vị trí mặt phẳng cắt và hướng nhìn để đảm bảo người đọc hiểu đúng.

4.3. Quy ước về ký hiệu vật liệu và các chi tiết không cắt

Ký hiệu vật liệu trên mặt cắt, thường là các đường gạch gạch song song nghiêng 45°, giúp phân biệt phần đặc của vật thể. TCVN 7:1993 quy định rõ về các ký hiệu này cho từng loại vật liệu (kim loại, phi kim, gỗ...). Một quy ước quan trọng trong vẽ kỹ thuật là không biểu diễn mặt cắt cho các chi tiết đặc, mỏng như nan hoa, gân trợ lực, trục đặc, bu lông khi mặt phẳng cắt đi dọc trục của chúng. Quy ước này giúp hình biểu diễn trở nên rõ ràng hơn, tránh tạo cảm giác chi tiết bị rỗng bên trong.

V. Ứng dụng vẽ kỹ thuật trong bản vẽ thi công nền thực tế

Kiến thức từ giáo trình vẽ kỹ thuật được ứng dụng trực tiếp và sâu rộng trong việc tạo lập và đọc hiểu các bản vẽ thi công nền móng. Bản vẽ thi công không chỉ bao gồm các chi tiết máy mà còn thể hiện toàn bộ hiện trạng và thiết kế của công trình. Ba loại hình chiếu chính được sử dụng trong lĩnh vực này là bình đồ, trắc dọc và trắc ngang. Bình đồ (phép chiếu bằng) là hình chiếu bằng của tuyến đường, cho thấy vị trí các cọc, chiều rộng, chiều dài, các đoạn cong và vị trí các công trình như cống, cầu. Trắc dọc (phép chiếu đứng) là mặt cắt dọc theo tim đường, xác định cao độ tự nhiên và cao độ thiết kế, từ đó tính toán khối lượng đào, đắp. Trắc ngang (phép chiếu cạnh) là mặt cắt vuông góc với tim đường, thể hiện chi tiết kết cấu mặt đường, lề đường, mái dốc (taluy) và hệ thống rãnh thoát nước. Người vận hành máy thi công nền phải thành thạo việc đọc các loại bản vẽ này để xác định đúng vị trí cần san ủi, lu lèn hay đào đắp, đảm bảo thi công đúng theo thiết kế. Đây chính là cầu nối quan trọng giữa lý thuyết vẽ kỹ thuật cơ khí và thực tiễn vận hành máy móc tại công trường.

5.1. Đọc hiểu bình đồ Xác định vị trí và hướng tuyến công trình

Bình đồ là cái nhìn tổng quan từ trên xuống của khu vực thi công. Đọc bình đồ giúp xác định tên và vị trí các cọc tim đường, chiều dài các đoạn thẳng, bán kính các đoạn cong, và các yếu tố địa hình, địa vật hai bên tuyến. Đối với người vận hành, bình đồ cung cấp thông tin chiến lược về phạm vi làm việc, các chướng ngại vật cần tránh và lộ trình di chuyển của máy móc trên công trường.

5.2. Phân tích trắc dọc và trắc ngang để tính toán khối lượng

Trắc dọctrắc ngang là các công cụ không thể thiếu để quản lý cao độ và khối lượng đất đá. Trắc dọc cho thấy sự chênh lệch giữa cao độ thiên nhiên và cao độ thiết kế dọc theo tim đường, từ đó xác định các đoạn đào và đoạn đắp. Trắc ngang cung cấp thông tin chi tiết về mặt cắt tại từng cọc, bao gồm độ dốc ngang, bề rộng nền đường và diện tích đào hoặc đắp. Việc kết hợp thông tin từ hai loại bản vẽ này cho phép tính toán chính xác khối lượng công việc, lập kế hoạch điều phối máy móc và vật tư hiệu quả.

30/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 4: HÌNH CHIẾU TRỤC ĐO. Các loại hình chiếu trục đo 4.Khái niệm về hình chiếu trục đo. Khái nệm Các hình chiếu vuông góc thể hiện chính xác hình dạng và kích thước của vat thé được biểu diễn. Song mỗi hình chiếu vuông góc thường chỉ thê hiện được hai chiều của vật thể, nên hình vẽ thiếu tính lập thể, làm cho người đọc bản vẽ khó hình dung hình dạng của vật thể đó.

Để khắc phục nhược điểm trên, tiêu chuẩn Hệ thống tài liệu thiết kế TCVN 11-78 Hình chiếu trục đo qui định dùng hình chiếu trục đo để bổ sung cho các hình chiếu vuông góc. Hình chiếu trục đo thể hiện đồng thời trên một hình biểu diễn cả ba chiều của vật thể, nên hình biểu diễn có tính lập thể. Thường trên bản vẽ của nhữngvật thể phức tạp, bên cạnh những hình chiếu vuông góc, người ta còn vẽ thêm hình chiếu trục đo của vật thể. Nội dung của phương pháp hình chiếu trục đo như sau: - Trong không gian, ta lấy mặt phẳngPˆ làm mặt phẳng hình chiếu và phương chiếu 7 không song song với P”.

- Gắn vào vật thể được biểu diễn hệ toạ độ vuông góc theo ba chiều dài, rong, cao của vat thé va dat vat thé sao cho phương chiếu / khéng song song với một trong ba trục toa độ đó. - Chiếu vật thể cùng hệ toạ độ vuông góc lên mặt phẳng P’ theo phương chiếu 7, ta được hình chiếu song song của vật thể cùng hệ toạ độ vuông góc. Hình biểu diễn đó gọi là hình chiếu trục đo của vật thể (hình 4. + Hình chiếu của ba trục toa dé 1a O’x’ O’y’ va O’z’ goi là các trục đo.

+ Tỷ số giữa độ dài hình chiếu của một đoạn thang nằm trên trục toạ độ với độ dài của đoạn thẳng đó gọi là hệ số biến đạng theo trục do. OA 0A - p: Hệ số biến dang theo truc do O'X'. O'B 05 - q: Hệ số biến dạng theo trục đo O'Y'. 46 OC OC =: He sé bién dang theo truc do O'Z".

z P as x TE = Hình 4. Phân loại hình chiếu trục đo. Hình chiếu trục đo được chia ra các loại sau đây: * Căn cứ theo phương chiêu l chia ra. -Hinh chiếu trục đo vuông góc: Nếu phương chiếu / vuông góc với mặt phẳng hình chiêu P° - Hình chiếu trục đo xiên: Nếu phương chiếu / không vuông góc với mặt phẳng hình chiếu P'.

* Căn cứ theo hệ số biến dạng chia ra: - Hình chiếu trục đo đều: ba hệ số biến dạng theo ba trục đo bằng nhau (p = q =r). - Hình chiếu trục đo cân: hai trong ba hệ số biến dạng theo ba trục đo bằng nhau (p =q# T;p#q=r;p=r+q). - Hình chiếu trục đo lệch: ba hệ số biến dạng theo ba trục đo từng đôi một không bằng nhau (p # q#?). Trong các bản vẽ cơ khí, thường dùng loại hình chiếu trục đo xiên cân (p =r #dq; ¡ không vuông góc với P’) và hình chiếu trục đo vuông góc đều (p =r =q; LL P’).

Hình chiếu trục đo xiên cân. Hình chiếu trục đo xiên cân là loại hình chiếu trục đo xiên (phương chiếu / không vuông góc với mặt phẳng hình chiếu P’) có mặt phẳng toạ độ xOy song song với mặt 47 phẳng chiếu P’ và hai trong ba hệ số biến dạng bằng nhau p = r # q. Góc giữa các trục do x’o’y’ = y’0’2’ = 135°, x°O’z’ = 90° va cdc hé s6 bién dạng p = r =l, q = 0,5. Như vậy trục O°y° làm với đường nằm ngang một góc 45” (hình 4.

Hình chiếu trục đo của các hình phẳng song song với mặt toạ độ ox sẽ không bị biến dạng trên hình chiếu trục đo xiên cân. Vì vậy khi vẽ hình chiếu trục đo của vật thể, ta thường đặt các vật thể, có hình dạng phức tạp song song với mặt phẳng toạ độ ox (hình4.3 Hình chiếu trục đo của các đường tròn nằm trên hay song song với các mặt phẳng toạ độyoz và xOy là các elip, vi trí các elip đó như hình 4. Hình chiếu trục đo vuông góc đều. Hình chiếu trục đo vuông góc đều là loại hình chiếu trục đo vuông góc có các góc gitta cdc truc do x’O’y’ = y’O’z’ = x’0’z’ = 120° va cdc hé s6 biến dang qui ước: p = q =r= I (hình 4.

48 Hình tròn song song với mặt xác định bởi hai trục toạ độ sẽ có hình chiếu trục đo là một hình elip, trục dài của elip vuông góc với hình chiếu của trục toạ độ còn lại (hình 4. Ví dụ, hình chiếu trục đo của hình tròn nằm trên mặt phẳng toạ độ xOy là hình elip có trục dài vuông góc với trục đo O°z).6 Trên các bản vẽ, cho phép thay các hình elip bằng các hình ôvan. Cách vẽ các hình ôvan như hình 4. Trước hết vẽ hình thoi (hình chiếu trục đo của hình vuông ngoại tiếp hình tròn) có cạnh bằng đườngkính của hình tròn.

Lần lượt lấy các đỉnh O; và O; của hình thoi làm tâm vẽ các cung tròn EF và GH (E, F, G, H là các điểm giữa của các cạnh của hình thoi) như hình 4. Các đường EO: và FO; cắt đường chéo lớn của hình thoi tại hai điểm Os va O,. Lần lượt lấy O3 va O, lam tâm vẽ các cung tròn EH và FG ta được hình ôvan thay cho hình elip. Cach dung hinh chiéu truc do.

Khi vẽ hình chiếu trục đo của vật thể, ta cần dựa vào đặc điểm của hình dạng của vật thê đê chọn cách vẽ cho thích hợp. Thường thường, người ta vẽ trước một mặt của vật thể làm cơ sở, sau đó dựa vào các tính chất của phép chiếu song song như tính chất 49 của hai đường thẳng song song, tính chất của tỉ số hai đoạn thắng song song v. để vẽ các mặt khác. Trình tự vẽ hình chiếu trục đo như sau: - Chọn loại trục đo và dùng êke, thước kẻ để xác định vị trí các trục đo.

- Vẽ trước một mặt làm cơ sở, mặt vật thể đặt trùng với mặt phẳng toạ độ. - Từ các đỉnh của mặt đã vẽ, kẻ các đường song song với trục đo thứ ba. - Căn cứ theo hệ số biến dạng đặt các đoạn thẳng lên các đường đó. - Nối các điểm đã xác định và hoàn thành hình vẽ bằng nét mảnh.

- Cuối cùng tô đậm. Vi dụ 1: vẽ hình chiếu trục đo xiên góc cân của vật thể đã cho như hình vẽ. A LIN 90 NAR AEC 40 Hinh 4.8 Vi du 2:vé hinh chiéu truc đo vuông góc đều của chỉ tiết ở hình dưới.9 Đối với vật thể có dạng hình hộp, có thể vẽ hình chiếu trục đo theo phương pháp cắt xén hình hộp ngoại tiếp và lấy 3 mặt vuông góc của hình hộp làm 3 mặt phẳng tọa độ (hình 4.10 Đối với những vật thể có các mặt đối xứng (hình 4.11), nên chọn các mặt phẳng đối xứng đó làm các mặt phẳng toạ độ.12 trình bày cách dựng hình chiếu trục đo của vật thể lăng trụ có 2 mặt phẳng đối xứng XOY và YOZ làm hai mặt phẳng tọa độ.12 Để thể hiện hình dạng bên trong của vật thể người ta thường vẽ hình chiếu trục đo của vật thể đã được cắt đi một phần. Nên chọn các mặt phẳng cắt thế nào cho hình chiếu trục đo vừa thể hiện được hình dạng bên trong của vật thể, vừa giữ nguyên được hình pl dạng cơ bản bên ngoài của vật thể đó.

Thường thường vật thể được xem như bị cắt đi một phần tư, và các mặt phẳng cắt là các mặt phẳng đối xứng của vật thể. Đường gạch gạch của mặt cắt trong hình chiếu trục đo được kẻ song song với hình chiếu trục đo của đường chéo của hình vuông nằm trên các mặt phẳng toạ độ tương ứng và có cạnh song song với các trục toạ độ. Để hình chiếu trục đo được nổi và đẹp, người ta thường tô bóng. Cách tô bóng dựa trên sự chiếu sáng đối với vật thể.

Tuỳ theo phần của vật thể được chiếu sáng ít hay nhiều mà kẻ các đường có nét đậm, mảnh khác nhau và có khoảng cách giữa các đường dày thưa khác nhau. Các đường đó thường được kẻ song song với cạnh hay đường sinh của khối hình học (hình 4.14 52 CHUONG 5: HINH CHIEU CUA VAT THE.Hình chiếu của vật thể 5. Các loại hình chiếu. Hình chiếu của vật thẻ, là hình biểu diễn các phần thấy của vật thể đối với người quan sát, cho phép thể hiện các phần khuất của vật thể bằng nét đứt để giảm số lượng hình biểu diễn.

Vật thể được xem như được đặt giữa mắt người quan sát và mặt phăng chiếu. Vật thể được đặt sao cho các bề mặt của nó song song với mặt phẳng hình chiếu của vật thể phản ánh được hình dạng thật của các bề mặt đó. Các hình chiếu phải giữ đúng vị trí sau khi gập các mặt phẳng chiếu trùng với mặt phẳng bản vẽ. Để cho đơn giản, tiêu chuẩn qui định không vẽ các trục hình chiếu, các đường gióng, không ghi ký hiệu bằng chữ hay bằng số các đỉnh, các cạnh của vật thể.

Những đường thấy được của vật thể vẽ bằng nét liền đậm. Những đường khuất được vẽ bằng nét đứt. Hình chiếu của mặt phẳng đối xứng của vật thê và hình chiếu của trục hình học của các khối tròn được vẽ bằng nét gạch chấm mảnh. Hình chiếu của vật thể bao gồm hình chiếu cơ bản, hình chiếu phụ và hình chiếu riêng phần.

Hiện nay trên thế giới có 2 nhóm tiêu chuẩn chính là tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) và tiêu chuẩn My (ANSI). Tiéu chuẩn Việt Nam về Vẽ kỹ thuật cơ khí của TCVN dựa theo tiêu chuẩn quốc tế ISO nên dùng Phép chiếu góc thứ nhất (First Angle Projection). Các phương pháp biểu diễn. - Phương pháp chiếu góc thứ nhất (phương pháp E).

Trong phương pháp chiếu góc thứ nhất (PPCGI) vật thể được đặt giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu. Các vị trí của các hình chiếu khác hình chiếu chính (hình chiếu đứng) được xác định bằng cách quay các mặt phẳng hình chiếu về trùng với mặt phẳng hình chiếu đứng P;(hình 4. Phương pháp này được các nước châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam.Ở phương pháp này vật thể được đặt bên trong hộp chiếu lập phương và chiếu thẳng góc vat thé này lên các mặt bên của hộp chiếu.15 Phương pháp chiếu thắng góc sáu hình chiếu cơ bản và khai triển phẳng 6 bản vẽ các hình chiếu thẳng góc này trên cùng một tờ giấy vẽ (hình 4. Hình chiếu tử phải | Hình chiếu đừng | Hình chiếu cọnh Hình chiếu fỪ sau.16 - Phuong phap chiéu goc thir ba (phuong phap A).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ