Giáo trình thiết kế và quản trị web - Lưu Văn Đại, Nguyễn Duy - CĐ Kỹ thuật Cao Thắng

Giáo trình toàn diện về thiết kế và quản trị website hiện đại. Cung cấp kiến thức từ nền tảng HTML, CSS, JavaScript đến kỹ năng quản lý nội dung, tối ưu hiệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2018

246
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình thiết kế và quản trị web

Giáo trình thiết kế và quản trị web là tài liệu đào tạo chuyên ngành kỹ thuật điện tử, truyền thông và mạng máy tính. Nội dung bao quát toàn bộ quy trình từ xây dựng đến vận hành website. Giáo trình được biên soạn dành cho hệ cao đẳng với cấu trúc logic, từ cơ bản đến nâng cao. Phần đầu tiên giới thiệu tổng quan về Internet, lịch sử hình thành ARPANET, giao thức TCP/IP và cơ chế hoạt động của World Wide Web. Người học tiếp cận khái niệm về địa chỉ IP, tên miền và các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Tiếp theo, giáo trình trình bày chi tiết về HTML, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản dùng để tạo cấu trúc trang web. Các thẻ HTML được phân loại rõ ràng: thẻ định cấu trúc tài liệu, thẻ định dạng khối, thẻ định dạng danh sách, thẻ định dạng ký tự, thẻ chèn âm thanh, hình ảnh và thẻ định dạng bảng biểu. Giáo trình cũng giới thiệu công cụ Dreamweaver để thiết kế website trực quan, hỗ trợ người học thực hành hiệu quả mà không cần viết code thủ công hoàn toàn.

1.1. Lịch sử phát triển Internet và vai trò của web

Internet ra đời năm 1969 từ dự án ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ, ban đầu chỉ liên kết bốn địa điểm nghiên cứu. Qua thời gian, mạng mở rộng liên kết hàng triệu máy tính toàn cầu. Giao thức TCP/IP trở thành ngôn ngữ thống nhất cho mọi thiết bị giao tiếp. Ethernet phát triển tại Trung tâm Palo Alto của Xerox, trở thành chuẩn kết nối mạng cục bộ quan trọng. World Wide Web xuất hiện giúp truy cập thông tin dễ dàng qua trình duyệt. Sự phát triển này đặt nền móng cho ngành thiết kế và quản trị web hiện đại, tạo nhu cầu đào tạo chuyên sâu về xây dựng, vận hành website chuyên nghiệp.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình gồm nhiều chương trình bày theo trình tự logic. Chương đầu tiên giới thiệu tổng quan về thiết kế web và Internet. Chương hai đi sâu vào HTML, phân loại các thẻ theo chức năng cụ thể. Chương ba hướng dẫn sử dụng Dreamweaver, từ tạo thư mục chứa bộ web đến xây dựng template và đưa website lên hosting. Chương bốn giới thiệu CSS giúp định dạng giao diện đẹp mắt, quản lý tính kế thừa và thứ tự ưu tiên. Chương năm trình bày JavaScript cơ bản với biến, kiểu dữ liệu và đối tượng form. Chương cuối hướng dẫn quản trị website bằng WordPress, từ cài đặt đến sử dụng các chức năng chính.

II. Phân tích các vấn đề trong thiết kế và quản trị web

Thiết kế và quản trị web đặt ra nhiều thách thức cho người học lẫn người hành nghề. Về mặt kỹ thuật, việc viết code HTML thuần tốn thời gian, dễ xảy ra lỗi cú pháp và khó kiểm soát bố cục phức tạp. Các thẻ HTML chỉ định nghĩa cấu trúc nội dung, chưa đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ và trải nghiệm người dùng hiện đại. Quản lý file, hình ảnh, liên kết nội bộ đòi hỏi sự tổ chức khoa học, nếu không website sẽ gặp lỗi đường dẫn hỏng hoặc tải chậm. Về quản trị, nhiều người mới bắt đầu gặp khó khăn khi lựa chọn nền tảng phù hợp. Sự khác biệt giữa WordPress.com và WordPress.org thường gây nhầm lẫn, dẫn đến lựa chọn sai mục đích sử dụng. Bảo mật website, cập nhật nội dung định kỳ, tối ưu tốc độ tải trang là những vấn đề cần giải quyết liên tục. Ngoài ra, việc tương thích hiển thị trên nhiều trình duyệt và thiết bị di động cũng là thách thức lớn, đòi hỏi kiến thức về responsive design và kiểm thử cross-browser.

2.1. Thách thức trong thiết kế giao diện và cấu trúc trang

2.2. Vấn đề quản trị và duy trì website sau khi triển khai

III. Giải pháp và phương pháp học thiết kế quản trị web

Giáo trình đề xuất phương pháp học kết hợp lý thuyết và thực hành xuyên suốt quá trình đào tạo. Về công cụ, Dreamweaver là phần mềm chính được giới thiệu với giao diện thân thiện, hỗ trợ tạo trang web nhanh chóng. Người học bắt đầu bằng cách tạo thư mục chứa bộ web, tạo trang mới, lưu và định dạng trang cơ bản. CSS được áp dụng để kiểm soát giao diện tập trung, tận dụng tính kế thừa giúp giảm mã trùng lặp. JavaScript bổ sung tính tương tác động cho trang web với các lệnh xuất thông báo, chèn chuỗi nội dung và xử lý biểu mẫu. Giáo trình giới thiệu mười ba công cụ hỗ trợ thiết kế web chuyên nghiệp bao gồm Sublime Text, Sketch, OmniGraffle, Axure, Hype 2, Vim và nhiều công cụ khác. Mỗi công cụ phục vụ mục đích cụ thể: soạn thảo code, thiết kế wireframe, tối ưu hình ảnh, tạo nguyên mẫu tương tác. Phương pháp học theo dự án thực tế giúp củng cố kiến thức hiệu quả nhất.

3.1. Sử dụng Dreamweaver và CSS trong thiết kế web thực tế

3.2. Quản trị website bằng WordPress và các công cụ hỗ trợ

IV. Kết luận và ứng dụng thực tế của giáo trình web

Giáo trình thiết kế và quản trị web cung cấp nền tảng kiến thức toàn diện cho sinh viên ngành kỹ thuật điện tử, truyền thông và mạng máy tính. Nội dung được xây dựng theo hướng ứng dụng thực tế, từ lý thuyết Internet cơ bản đến kỹ năng xây dựng và vận hành website chuyên nghiệp. Sau khi hoàn thành giáo trình, người học có khả năng thiết kế giao diện web bằng HTML, CSS và JavaScript. Sử dụng thành thạo Dreamweaver và các công cụ hỗ trợ thiết kế hiện đại. Quản trị website bằng WordPress bao gồm cài đặt, cấu hình, cập nhật nội dung và bảo trì. Kiến thức về địa chỉ IP, tên miền, hosting giúp người học hiểu rõ hạ tầng web. Giáo trình cũng trang bị tư duy tổ chức nội dung logic, tối ưu trải nghiệm người dùng và chuẩn SEO cơ bản. Đây là hành trang vững chắc để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông ngày càng phát triển.

4.1. Ứng dụng kiến thức trong nghề nghiệp thực tế

4.2. Xu hướng phát triển và cập nhật kiến thức liên tục

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giáo trình thiết kế và quản trị web

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ WEB. Khái quát về Internet. Phương thức kết nối.

Địa chỉ IP và tên miền. World Wide Web và HTML. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Giới thiệu một số dịch vụ Internet thông dụng.

Thiết kế web. TỔNG QUAN VỀ HTML. Các thẻ định cấu trúc tài liệu. Các thẻ định dạng khối.

Các thẻ định dạng danh sách. Các thẻ định dạng ký tự. Các thẻ chèn âm thanh, hình ảnh. Các thẻ định dạng bảng biểu.

SỬ DỤNG DREAMWEAVER THIẾT KẾ WEBSITE. Tạo thư mục chứa bộ web. Tạo mới một trang web. Lưu một trang web.

Định dạng trang web. Xem trang web trên trình duyệt. Tạo bảng trong trang web. Chèn hình vào trang web.

Chèn ảnh động flash, video clip vào trang web. Tạo menu cho trang web. Tạo liên kết cho trang web. Cách tạo Template.

Tạo trang web mới từ template. Đưa website lên hosting. CASCADING STYLE SHEETS. Lợi ích việc sử dụng CSS.

Sử dụng CSS. Thứ tự ưu tiên và tính kế thừa. THẺ <NOSCRIPT> VÀ </NOSCRIPT> .4 Các lệnh xuất thông báo cơ bản .5 Chèn chuỗi vào nội dung trang HTML .6 Biến-Kiểu dữ liệu. Các đối tượng trong javascript.

Các phần tử của đối tượng form. QUẢN TRỊ WEBSITE. Đăng kí website miễn phí trên internet .com và WordPress.org khác nhau như thế nào?. Cài Đặt WordPress.

Các Chức Năng Chính Trong WordPress. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ WEB 1. Khái quát về Internet 1. Internet là gì? Internet là một liên mạng máy tính toàn cầu được hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông.

Internet là mạng của các mạng máy tính. Trong mạng này, các máy tính và thiết bị mạng giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ thống nhất. Đó là bộ giao thức TCP/IP (Transmision Control Protocol – Internet Protocol). Lịch sử phát triển Internet được hình thành từ năm 1969, từ một dự án nghiên cứu của Bộ quốc phòng Mỹ.

Lúc đó Internet chỉ liên kết 4 địa điểm: Viện Nghiên cứu Standford, Trường Đại học tổng hợp California ở LosAngeles, UC – Santa Barbara và Trường Đại học Tổng hợp Utah. Mạng này được biết đến dưới cái tên ARPANET. ARPANET càng phát triển khi có nhiều máy nối vào – rất nhiều trong số này là từ các cơ quan của Bộ quốc phòng Mỹ hoặc những trường đại học nghiên cứu với các đầu nối vào Bộ quốc phòng. Đây là những giao điểm trên mạng.

Trong khi ARPANET đang cố gắng chiếm lĩnh mạng quốc gia thì một nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Palo Alto của công ty Xerox đã phát triển một kỹ thuật được sử dụng trong mạng cục bộ là Ethernet. Theo thời gian, Ethernet trở thành một trong những chuẩn quan trọng để kết nối trong các mạng cục bộ. Cũng trong thời gian này, DARPA (đặt lại tên từ ARPA) chuyển sang hợp nhất TCP/IP (giao thức được sử dụng trong việc truyền thông trên Internet) vào phiên bản hệ điều hành UNIX của trường đại học tổng hợp California ở Berkeley. Với sự hợp nhất như vậy, những trạm làm việc độc lập sử dụng UNIX đã tạo nên một thế mạnh trên thị trường, TCP/IP cũng có thể dễ dàng tích hợp vào phần mềm hệ điều hành.

TCP/IP trên Ethernet đã trở thành một cách thức thông dụng để trạm làm việc nối đến trạm khác. Trong thập kỷ 1980, máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi trong các công ty và trường Đại học trên thế giới. Mạng Ethernet kết nối các máy tính cá nhân (PC) trở thành phổ biến. Các nhà sản xuất phần mềm thương mại cũng đưa ra những chương trình cho phép các máy PC và máy UNIX giao tiếp cùng một ngôn ngữ trên mạng.

Vào giữa thập kỷ 1980, giao thức TCP/IP được dùng trong một số kết nối khu vực – khu vực (liên khu vực) và cũng được sử dụng cho các mạng cục bộ và mạng liên khu vực. Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng 1974 trong khi mạng vẫn được gọi là ARPANET. Vào thời điểm này, ARPANET (hay Internet) còn ở qui mô rất nhỏ. 1 Mốc lịch sử quan trọng của Internet được chọn vào giữa thập kỷ 1980, khi Quỹ khoa học quốc gia Mỹ NSF (National Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET.

Mạng này chính là mạng Internet. Điểm quan trọng của NSFNET là cho phép mọi người cùng sử dụng. Trước NSFNET, chỉ các nhà khoa học, chuyên gia máy tính và nhân viên các cơ quan Chính phủ được kết nối Internet. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET.

Chính vì vậy, sau gần 20 năm ARPANET trở nên không còn hiệu quả và đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990. Ngày nay, mạng Internet phát triển mạnh mẽ hơn các phương tiện truyền thông truyền thống khác như phát thanh và truyền hình, do sự cải tiến và phát triển không ngừng. Các công nghệ đang áp dụng trên Internet giúp cho Internet trở thành mạng liên kết vô số kho thông tin toàn cầu, có dịch vụ phong phú về nội dung, hình thức. Đó cũng chính là điều thúc đẩy chúng ta nên bắt đầu ngay với hành trình khám phá thế giới mới – thế giới Internet.

Cấu trúc Internet Internet là một liên mạng kết nối các mạng nhỏ hơn với nhau. Như vậy, cấu trúc Internet gồm các mạng máy tính được kết nối với nhau thông qua các kết nối viễn thông. Thiết bị dùng để kết nối các mạng máy tính với nhau là cổng nối Internet (Internet Gateway) hoặc Bộ định tuyến (Router). Cấu trúc Internet Tuy nhiên, đối với người dùng, Internet chỉ là một mạng duy nhất.

Internet dưới góc nhìn của người sử dụng 1. Phương thức kết nối Để có thể sử dụng các dịch vụ Internet, người dùng phải kết nối máy tính của mình với Internet. Có nhiều phương thức kết nối với nhiều tốc độ khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và điều kiện của người sử dụng. Kết nối thông qua kênh thuê riêng Trong phương thức kết nối này, máy tính hay mạng máy tính của người sử dụng được kết nối trực tiếp tới nhà cung cấp dịch vụ Internet thông qua một kênh thuê riêng do nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông cấp.

Kết nối qua kênh thuê riêng Đặc điểm của phương thức này là kết nối luôn thường trực, nghĩa là bạn có thể truy nhập Internet bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, giá thành sử dụng kết nối này rất cao vì bạn phải trả tiền thuê bao theo tháng chứ không phải trả theo dung lượng sử dụng. Phương thức kết nối này thường được những nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến sử dụng. Kết nối quay số qua mạng điện thoại 3 Trong phương thức kết nối này, người dùng kết nối với Internet thông qua mạng điện thoại.

Để kết nối, người dùng cần có một đường điện thoại và một thiết bị kết nối có tên modem. Máy tính của người dùng kết nối với Modem và modem được kết nối tới đường điện thoại. Kết nối quay số qua mạng điện thoại Hiện nay, dịch vụ kết nối này đều được các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông cung cấp. Khi người sử dụng đăng ký, nhà cung cấp sẽ cấp cho họ một tài khoản để truy nhập và số điện thoại cần gọi.

Kết nối kiểu này không luôn thường trực. Khi muốn sử dụng dịch vụ, người dùng phải quay số đến số điện thoại do nhà cung cấp dịch vụ cấp. Sau đó nhập tên truy nhập và mật khẩu để đăng nhập. Kiểu kết nối này thường được người dùng cá nhân sử dụng vì giá thành rẻ và dễ lắp đặt.

Kết nối qua ADSL Kết nối Internet qua ADSL là một dịch vụ mới và đang rất phổ biến. ADSL là công nghệ truy nhập bất đối xứng, tốc độ đường xuống lớn hơn tốc độ đường lên. Đặc điểm này rất phù hợp với truy nhập Internet vì người dùng thường lấy thông tin từ Internet xuống nhiều hơn gửi thông tin lên Internet. Người dùng có thể đăng ký dịch vụ này ngay trên đường dây điện thoại sẵn có của mình chứ không nhất thiết phải mắc thêm một đường dây mới.

Để sử dụng, người dùng cần có ADSL modem. Máy tính của người dùng kết nối tới ADSL modem và modem này được kết nối với đường dây điện thoại đã đăng ký dịch vụ ADSL. Kết nối qua ADSL Đặc điểm của phương thức này là kết nối mạng cũng luôn thường trực (sau khi kết nối được tự động thực hiện) nhưng người dùng chỉ phải trả tiền cho những thời gian sử dụng. Cụ thể, các nhà cung cấp dịch vụ hiện nay đều tính cước dựa trên dung lượng thông tin người dùng tải xuống và tải lên Internet.

Địa chỉ IP và tên miền 1. Địa chỉ IP Các máy tính trên Internet giao tiếp với nhau sử dụng bộ giao thức TCP/IP. Để các máy tính có thể liên lạc với nhau, mỗi máy tính cần có một địa chỉ liên lạc và địa chỉ này phải là duy nhất. Điều này cũng giống như các thuê bao trong mạng điện thoại di động phải có một số hiệu thuê bao (số máy) và số thuê bao này phải là duy nhất trong mạng.

Bộ giao thức TCP/IP sử dụng địa chỉ IP để đánh địa chỉ cho các máy tính trong mạng. Mỗi địa chỉ IP bao gồm 32 bit, được chia thành 4 nhóm đều nhau, mỗi nhóm 8 bit. Các nhóm này được phân tách với nhau bởi một dấu chấm “. Cách biểu diễn địa chỉ IP phổ biến nhất là “thập phân dấu chấm”.

Trong cách biểu diễn này, địa chỉ IP được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm là một số thập phân và được phân tách với nhau bởi một dấu chấm. Cấu trúc địa chỉ IP là: A.D Trong đó: A, B, C, D là các số thập phân. Dó mỗi số thập phân này đều dược chuyển từ một số nhị phân 8 bit nên giá trị của chúng phải nằm trong khoảng từ 0 đến 255. Một số ví dụ về địa chỉ IP: - 10.1 Địa chỉ IP đang được sử dụng hiện tại là (IPv4) có 32 bit.

Hiện nay một số quốc gia đã đưa vào sử dụng địa chỉ IPv6 nhằm mở rộng không gian địa chỉ và những ứng dụng mới, IPv6 bao gồm 128 bit dài gấp 4 lần của IPv4. Version IPv4 có khả nǎng cung cấp 232 = 4294967296 địa chỉ. Còn Version IPv6 có khả nǎng cung cấp tới 2128 địa chỉ. Do địa chỉ IP phải là duy nhất nên cần có một tổ chức quản lý việc cấp phát địa chỉ IP.

Hiện nay tổ chức phi Chính phủ Inter – NIC – chịu trách nhiệm cung cấp địa chỉ IP để đảm bảo không có máy tính kết nối Internet nào bị trùng địa chỉ: (http://www.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ