CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP Mã chương: MH33.01 Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm đầu tư dài hạn. - Liệt kê được các loại đầu tư dài hạn. - Nhận biết các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư dài hạn. - Xác định được các trình tự đầu tư dài hạn.
- Xác định được chi phí và thu nhập của dự án đầu tư. - Giải thích được các phương pháp đánh giá dự án đầu tư. - Tính đúng giá trị hiện tại và giá trị tương lai của tiền đối với 1 dự án đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. - Lựa chọn chính xác các dự án đầu tư tối ưu nhất theo các phương pháp đánh giá.
- Lập đúng kế hoạch đầu tư và huy động vốn đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp. - Làm đúng các bài tập thực hành về đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp. - Cẩn thận, chính xác trong luyện tập. - Tuân thủ theo đúng chế độ tài chính.
Nội dung chính: 1. Tổng quan về đầu tư dài hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm về đầu tư dài hạn 1. Khái niệm Đầu tư dài hạn là quá trình hoạt động sử dụng vốn để hình thành nên những tài sản cần thiết nhằm phục vụ cho mục đích thu lợi nhuận trong khoảng thời gian dài trong tương lai.
Đặc điểm của đầu tư dài hạn Phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ ban đầu tương đối lớn và được sử dụng có tính chất dài hạn trong tương lai, do đó đầu tư dài hạn luôn gắn liền với rủi ro. Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro đầu tư càng cao và ngược lại. Các loại đầu tư dài hạn của doanh nghiệp 1. Theo cơ cấu vốn đầu tư a.
Đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo ra TSCĐ cho doanh nghiệp Theo tính chất công tác: Đầu tư xây dựng cơ bản chia thành đầu tư cho công tác xây lắp, đầu tư cho máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng cơ bản khác (khảo sát, thiết kế, đền bù đất đai, chi phí mua bản quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa,. 6 Theo hình thái vật chất: Đầu tư xây dựng cơ bản chia thành đầu tư TSCĐ hữu hình (xây dựng, mua sắm các loại tài sản,.), đầu tư về TSCĐ vô hình (mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền thương mại, quy trình công nghệ mới,. Đầu tư về vốn lưu động thường xuyên cần thiết Đây là khoản đầu tư để hình thành nên tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết (nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu) đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành hoạt động bình thường. Đầu tư góp vốn liên doanh dài hạn và đầu tư vào tài sản tài chính Đây là các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp tham gia góp vốn sản xuất kinh doanh trong thời gian tương đối dài, chiụ trách nhiệm chung và phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp. Ngoài ra có thể mua cổ phần, mua trái phiếu dài hạn của doanh nghiệp khác phát hành,. và nhận lại thu nhập. Ý nghĩa: Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có thể xem xét tính hợp lý của các khoản đầu tư trong tổng thế đầu tư của doanh nghiệp để đảm bảo xây dựng được cơ cấu vốn đầu tư thích ứng với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp nhằm đặt hiệu quả đầu tư cao.
Theo mục tiêu đầu tư - Nội dung: + Đầu tư hình thành doanh nghiệp: Là các khoản đầu tư ban đầu để thành lập doanh nghiệp. + Đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh: Là toàn bộ các khoản đầu tư nhằm mở rộng thêm các phân xưởng mới hay các đơn vị trực thuộc. + Đầu tư chế tạo sản phẩm mới: Là khoản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp. + Đầu tư thay thế, hiện đại hoá máy móc: Là khoản đầu tư thay thế hoặc đổi mới các trang thiết bị cho phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm duy trì hoặc tăng khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
+ Đầu tư ra bên ngoài: Là việc đầu tư góp vốn thực hiện liên doanh dài hạn với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đầu tư về tài sản tài chính khác,. - Ý nghĩa: Việc phân chia này giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát được tình hình thực hiện đầu tư theo mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đặt ra trong một thời kỳ và biện pháp thích ứng để đạt mục tiêu đầu tư đề ra. Ngoài các cách phân loại trên, căn cứ vào phạm vi đầu tư có thể phân chia đầu tư doanh nghiệp thành đầu tư bên trong và ngoài doang nghiệp; căn cứ vào quy mô đầu tư có thể chia thành dự án đầu tư có quy mô lớn, dự án đầu tư có quy mô vừa và nhỏ. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn.
- Chính sách kinh tế – tài chính của Nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế và đối với doanh nghiệp: Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế. Thông qua chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế… Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng dẫn hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch vĩ mô. Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong định hướng đầu tư phát triển kinh doanh. - Thị trường và sự cạnh tranh: Trong sản xuất hàng hoá, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư.
Vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải đầu tư để sản xuất ra những loại sản phầm mà người tiêu dùng cần, tức là phải căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường hiện tại và tương lai để xem xét vấn đề đầu tư. Yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường và dự đoán tình hình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp, tạo ra lợi thế riêng của doanh nghiệp trên thị trường. - Lãi suất và thuế trong kinh doanh: Đây là yếu tố ảnh hưởng tới chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Thông thường để thực hiện đầu tư ngoài vốn tự có, doanh nghiệp phải vay và đương nhiên phải trả khoản lãi tiền vay.
Với việc trả lãi tiền vay đầu tư, doanh nghiệp phải tăng thêm khoản chi phí cho mỗi đồng vốn đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp không thể không tính đến yếu tố lãi suất tiền vay trong quyết định đầu tư. Thuế là công cụ rất quan trọng của Nhà nước để điều tiết và hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh. Đối với doanh nghiệp, thuế trong kinh doanh thấp hoặc cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ và lợi nhuận ròng của doanh nghiệp.
Do vậy, thuế trong kinh doanh là yếu tố kích thích hay hạn chế sự đầu tư của doanh nghiệp. - Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Nó có thể là cơ hội hoặc cũng có thể là nguy cơ đe doạ đối với sự đầu tư của một doanh nghiệp. Trong đầu tư, doanh nghiệp phải tính đến thành tựu của khoa học, công nghệ để xác định đầu tư về trang thiết bị, đầu tư về quy trình công nghệ sản xuất hoặc đầu tư kịp thời về đổi mới, hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ cũng đòi hỏi doanh nghiệp dám chấp nhận những mạo hiểm trong đầu tư để phát triển sản phẩm mới.
Ngược lại, doanh nghiệp nếu không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm sẽ có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm không còn phù hợp với nhu cầu thị trường. - Mức độ rủi ro của đầu tư: Trong sản xuất hàng hoá với cơ chế thị trường, mỗi quyết định đầu tư đều gắn liền với những rủi ro nhất định do sự biến động trong tương lai về sản xuất và về thị trường v. Do vậy, cần đánh giá, lượng định mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời của khoản đầu tư, xem xét tỷ suất sinh lời có tương xứng với mức độ rủi ro hay không để từ đó xem xét quyết định đầu tư. 8 - Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính để đầu tư ở giới hạn nhất định, bao gồm: Nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động.
Doanh nghiệp không thể quyết định đầu tư thực hiện các dự án vượt xa khả năng tài chính của mình. Đây là một yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Trình tự ra quyết định đầu tư dài hạn - Phân tích tình hình, xác định cơ hội đầu tư hay định hướng đầu tư: Đây là vấn đề hết sức quan trọng để đi đến quyết định đầu tư. Trước hết cần đánh giá đúng đắn tình hình bên ngoài và dự đoán tình hình đó trong tương lai.
Tiếp theo cần phân tích đánh giá đúng tình hình hiện tại của doanh nghiệp về năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tình hình tài chính,… đối chiếu với tình hình bên ngoài. Rút ra những mặt mạnh, mặt còn hạn chế trong sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính để xác định hướng đầu tư thích hợp. - Xác định mục tiêu đầu tư: Mỗi quyết định đầu tư của doanh nghiệp đều phải được xác định rõ mục tiêu cần đạt được về sản xuất và tài chính. Mục tiêu mang tính dài hạn.
- Lập dự án đầu tư: Đây là công việc rất phức tạp, phải giải quyết một loạt các vấn đề về kỹ thuật, kinh tế, tài chính. Trong mỗi dự án đầu tư cần phải trình bày rõ luận chứng kinh tế - kỹ thuật của việc đầu tư và dự toán để thực hiện việc đầu tư.