Chương I: Khái quát về Design 21 - Trong ý đồ sáng tác và thiết kế của mình phản ánh sức sống mãnh liệt của đô thị hóa, của lối sống gấp thông qua việc thay đổi liên tục mẫu mã, tác động mạnh của nền văn hóa lớn và đời sống hàng ngày gây dấu ấn trong các dự án, chương trình và hình thức của thiết kế. Một nét mới là cho đến ngày nay các nhà thiết kế mới nhận ra phương pháp tiếp thị là phương tiện thông tin có thể cạnh tranh với số lượng khá đông dân chúng đến thăm các bảo tàng. Bên cạnh nhận thức đã thay đổi cho rằng nghệ thuật tạo dáng có một ý nghĩa quan trọng và có vai trò mới trong thực tiễn văn hóa, nền kỹ thuật phát triển mau lẹ của những năm cuối đã làm thay đổi hẳn tính năng của nhiều thiết bị và đồ dùng quen thuộc, yêu cầu ngành tạo dáng phải đáp ứng được trên nhiều lĩnh vực và nhiều cách thức sử dụng hoàn toàn mới mẻ. Sự phát triển của nền kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ một cách thường xuyên tới nền thẩm mỹ.
Sự hấp dẫn của kỹ thuật thể hiện trong quá trình thẩm mỹ hóa ngày càng gia tăng. Thuật ngữ “High Tech” được chấp nhận là thuật ngữ về phong cách trong kiến trúc và tạo dáng từ khi xuất bản cuốn sách cùng tên của S. Phong cách High-tech nhấn mạnh sự xuất hiện về phương diện công nghệ của các tòa nhà thông qua sự bố trí ra bên ngoài các mạch lắp đăt và thang máy (Installationsleitungen und Aufzuege), các chi tiết thiết kế dầm chữ T, các gân chịu lực bằng thép… Ví dụ điển hình là Trung tâm Pompidou (1977) của R.Rogers tại Paris, Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (1981-1985) của Foster và tòa nhà Lloyd-of-London (1986) của R. Năm 1979, ông chủ của hãng Sony A.Morita đã quyết định sản xuất một loại phương tiện bỏ túi để nghe nhạc - Walkman, mặc dù có sự phản đối của giám đốc thương mại của công ty.
Phương tiện này trong những năm 80 đã làm thay đổi cảm giác về cuộc sống và mức tiêu thụ âm nhạc trong nền văn hóa thanh niên một cách sâu sắc. Từ đây người ta có thể nghe nhạc trong lúc đi tàu điện ngầm, đi mua hàng, v.v…Đài Walkman được sản xuất tới tận ngày nay với vô số kiểu dáng khác nhau. Nguyên lý của nó trong thời gian qua đã được ứng dụng trong các đầu CD và các máy truyền hình (Watchman - 1988), đầu video (Camcorder - 1983) cũng như trong kỹ thuật CD - Rom (Data - Discman 1991). Quá trình phát triển nhất quán ngành vi điện tử có thể coi là dẫn đến sự biến mất của các vật thể công năng, trước kia là một yếu tố quan trọng cho công việc tạo dáng nay đã trở thành không còn nhận biết nữa.
Nếu người ta có thể nhận ra công năng của máy chữ cơ khí một cách dễ dàng và theo dõi được công năng của máy chữ chạy điện, thì ở một đĩa mềm (vi tính) người ta hoàn toàn không có cách nào để nhận biết. Với một loại Chương I: Khái quát về Design 22 Hardware (phần cứng) như nhau có thể thõa mãn được nhiều công năng khác nhau. Truyền đạt cho người xem một nhận thức mới của nhà tạo dáng trong thời đại vi điện tử, việc tạo bề mặt trước kia bị chế nhạo là Styling, thì nay phía người sử dụng coi đó là vị trí cầu nối giữa máy vi tính và con người, sẽ trở thành nhiệm vụ trung tâm của công việc tạo dáng. Nghệ thuật tạo dáng nay không còn chỉ thiết kế ra các hình dáng cụ thể có thể sờ mó được mà trong thời gian qua nó đã tham gia tổ chức sắp xếp các quá trình phi vật chất và các thông tin.
Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1980 Từ những năm 80 không còn chỉ thiết kế cho máy vi tính nữa mà là thiết kế bằng máy vi tính. Các khái niệm CAD/CAM “Computer Aided Design”/ Computer Aided Chương I: Khái quát về Design 23 Manufacturing”= “Thiết kế dưới sự giúp đỡ của máy vi tính”/ “Sản xuất dưới sự trợ giúp của máy vi tính” đã trở thành những từ ngữ mang tính thần diệu đối với khả năng mới trong khâu lập kế hoạch và trong sản xuất, đặt biệt là đối với các sản phẩm của công nghệ cao. Các chương trình đồ họa mới cho phép mô phỏng chuẩn xác sản phẩm trên màn hình, mà trong đó bên cạnh bản phác thảo người ta có thể gọi ra các dữ liệu kỹ thuật và kinh tế quan trọng và thay đổi chúng. Ưu điểm của phương pháp này là đem lại cho ta sự thể hiện mang tính hình tượng cao và phát triển linh hoạt và mềm dẻo.
Qua sự tăng vọt của công tác thiết kế trong những năm 80, vai trò của nó cũng được nêu bật trong chính sách của doanh nghiệp. Phần lớn các mặt hàng tiêu dùng đến đầu những năm 80 đã trở nên chín muồi về mặt kỹ thuật và ở các thang giá liên quan về chất lượng coi như có chung một mặt bằng. Trong cuộc cạnh tranh với các đối tác của mình các hãng sản xuất chỉ còn lại phương tiện để tạo ra sự khác biệt: đó là khâu thiết kế. Trong rất nhiều doanh nghiệp công tác thiết kế đã trở thành một bộ phận cấu thành tất yếu của diện mạo doanh nghiệp, tạo dáng sản phẩm là uy tín của doanh nghiệp cũng như của người tiêu dùng.
Trong việc này có một số hãng không đề ra một chính sách cụ thể nào cho công tác thiết kế mà chỉ sử dụng thuật ngữ này một cách chung chung. Người ta coi tất cả những gì trông sặc sỡ hơn, nghiêng ngả hơn cái thông thường là “tác phẩm Design”, ký tên một nhà thiết kế nổi tiếng (trong một số trường hợp đã lạm dụng tên một nhà thiết kế nào đó) và khi cần thiết có thể còn thêm vào “xuất bản có hạn” nhằm tăng thêm sức hấp dẫn đối với người mua. Để đáp ứng vô vàn sở thích khác nhau người ta thực hiện quá trình tư nhân hóa những mẫu trang trí, bề mặt và các chi tiết bên ngoài trong khi vẫn giữ nguyên nội dung bên trong. Ngành tạo dáng ngày nay không thể nào bỏ qua vấn đề về môi trường, tạo ra một sản phẩm tốt nhưng phải bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên.
Giới tiêu dùng phản ứng ngày một nhạy cảm hơn đối với vấn đề môi trường. Hàng núi giấy được tẩy trắng bằng Clo, các nhãn giấy độc hại và các loại rác thải đặt biệt từ văn phòng buộc các nhà tạo dáng phải suy nghĩ một cách có ý thức hơn về các loại vật liệu và phương pháp sản xuất ra các sản phẩm mới. Người ta đã cảm nhận được một cách rõ ràng sự nỗ lực của các nhà tạo dáng trong việc chống lại hình ảnh của họ như là “người trang trí marketing” và họ muốn thể hiện sự cam kết của mình đối với xã hội và nhận thức đối với môi trường. Tạo dáng phù hợp với môi trường ngày nay không còn thỏa mãn với giải pháp thẩm mỹ thay thế từ xưa “đay thay nhựa” mà phải tạo ra những sản phẫm phức tạp cả trên lĩnh cực High Tech, có tuổi thọ cao, có thể tái sinh và đồng thời đáp ứng được một nền thẩm mỹ trình độ cao và thỏa mãn tính riêng tư.
Các sáng kiến trong việc này bao gồm từ Chương I: Khái quát về Design 24 việc sử dụng hình thức bao gói ăn được làm từ tinh bột cho tới việc chế tạo máy vi tính hoàn toàn tái sinh được, trong đó không sử dụng một chất kết dính nào thừa. Nhiệm vụ của ngành tạo dáng đã luôn thay đổi theo thời gian, luôn được mở rộng và trong thời gian qua đã không còn chỉ dừng ở việc tạo dáng sản phẩm. Ngay cả khi người ta bỏ qua việc sử dụng thuật ngữ một cách quá lạm dụng thì rõ rang ý nghĩa của ngành tạo dáng trong tương lai vẫn gia tăng cùng với việc mở rộng nhiệm vụ của lĩnh vực này. Mặc dù đang có những than phiền về tình trạng các thị trường bị xé nhỏ, song sự đa dạng của sản phẩm và hình dáng sẽ tiếp tục gia tăng, bởi sự nỗ lực để đạt được tính riêng tư và để tạo ra sự phân biệt với các đối thủ cạnh tranh khác sẽ khuyến khích quá trình phát triển đó.
Bức tranh của tình hình tạo dáng hiện hành sẽ ngày một phức tạp hơn, các nhà lý luận, các nhà phê bình và những người trong cuộc sẽ phải hành động giống như ở các lĩnh vực nghệ thuật đã có từ trước S(hội họa, kiến trúc…) và phải chọn cho mình những lĩnh vực chuyên môn và những vấn đề riêng lẻ đặc biệt. Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1990 Chương I: Khái quát về Design 25 Hình 1. Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1990 III. SỰ PHÁT TRIẾN TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ Thế giới tự nhiên tồn tại một cách khách quan và được các nhà thiết kế cảm nhận, phản ánh qua nhiều cách nhìn khác nhau do những hạn chế, ảnh hưởng của hoàn cảnh tâm lý hoàn cảnh tức thời.
Sự tạo ra nó diễn ra trước hết là bằng các phương tiện thẩm mỹ thông qua các dạng quan niệm, phép ẩn dụ, các phong cách trí tưởng tượng và phép chiếu hình.,…thực tế là sự xây dựng tính thẩm mỹ. Nhà triết học Wolfgang Welsdi đã diễn đạt về vấn đề thẩm mỹ tại hội nghị thiết kế Châu Âu “Design quo vadis?” mang đến cho công chúng thêm hiểu biết về cái nhìn toàn Chương I: Khái quát về Design 26 cảnh về thẩm mỹ thiết kế đương đại, theo ông thì thẩm mỹ xâm nhập vào nhận thức chung, vào những ngóc ngách của xã hội và vào đầu óc từng cá nhân. Suy nghĩ, nhận thức và tình cảm hiện nay của chúng ta thiên về một ý nghĩa rất đơn giản mang tính thẩm mỹ. Những hình ảnh và cư xử của thế giới hiện nay - những cái mang tính khoa học như những điều hằng ngày, tri thức và cảm xúc - tất cả những thứ đó điều được xác định bởi những tiền đề thẩm mỹ.
Con người đang sống trong thời đại thẩm mỹ, chúng ta bắt đầu mọi thứ với cái bề ngoài. Một sự thịnh vượng đột ngột về thẩm mỹ đã nắm giữ những mối quan hệ tiêu thụ về phong cách cá nhân và các nhu cầu làm đẹp của con người. Thẩm mỹ được chuyển lên phía trước dành cho kinh tế, sự tăng trưởng của thẩm mỹ có thể khẳng định được thẩm mỹ xuất phát từ biến đổi của tưởng tượng thực tế, sự thật hoàn toàn là kiểu kiến trúc dựa trên những tiền đề và những thực hiện mang tính thẩm mỹ.