CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CẢNG HÀNG KHÔNG, SÂN BAY 1.1 Giới thiệu Cảng hàng không, sân bay - Đầu tiên cảng hàng không (CHK) chỉ là một bãi đất trống (airfield), tức đường băng chỉ là đường đất nện để cho tàu bay cất và hạ cánh vào năm 1903 ở thành phố Kity Hawk ở phía bắc của Bang Carolina (Mỹ), lúc này hoàn toàn chưa có bất cứ một hoạt động dịch vụ nào cho hành khách cũng như cho tàu bay.1 CHK San Carlos - Sau đó CHK tiến tới phát triển thành CHK (aerodrome) đường băng bê tông với một số hoạt động phục vụ cho hành khách và tàu bay nhưng ở mức độ còn đơn giản (có kiểm soát không lưu tạị sân để đảm bảo an toàn cho tàu bay cất và hạ cánh, dịch vụ bán vé thu cước kiểm tra hành lý và một số dịch vụ đơn giản khác ở tại CHK).2 CHK Gatewick - Sau nữa là CHK (airport) với ý nghĩa đích thực của nó là một đầu mối giao thông phục vụ hành khách và hàng hoá đi và đến cảng. Tại đó có tất cả các dịch vụ phục vụ hành khách như check-in, soi chiếu an ninh, dịch vụ nhà hàng khách sạn, dịch vụ siêu thị, dịch vụ du lịch, thông tin, v. Đối với tàu bay có các dịch vụ như nạp nhiên liệu, nạp khí lạnh, dọn vệ sinh, kiểm soát không lưu, kéo dắt tàu bay, sửa chữa, v.3 CHK quốc tế Incheon 5 - Ngày nay trên thế giới đã xuất hiện CHK khổng lồ với tên Mega airport đảm đương rất nhiều chức năng để phục vụ mọi nhu cầu về an toàn và thuận tiện cho hành khách và tàu bay cũng như hàng hoá thông qua Cảng hàng không, sân bay (CHK, SB).4 Mega airport Heathrow 1.2 Khái niệm về CHK, SB - Trong một thời gian dài ở Việt nam sử dụng khái niệm sân bay như là CHK.
Kể từ khi Luật HKDDVN sửa đổi năm 2006 thì khái niệm CHK đã được xác định rõ: “CHK là khu vực xác định, bao gồm sân bay, nhà ga và trang bị, thiết bị, công trình cần thiết khác được sử dụng cho tàu bay đi, đến và thực hiện vận chuyển hàng không. Sân bay là một phần của cảng hàng không, nó là khu vực xác định được xây dựng để bảo đảm cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển” - Khái niệm của ICAO trong Annex 14: Sân bay là một khu vực xác định trên đất liền hoặc mặt nước (bao gồm mọi tòa nhà, các trang thiết bị và 6 phương tiện) được sử dụng với mục đích cho việc cất hạ cánh và di chuyển của tàu bay.3 Các khu vực hoạt động trong CHK, SB - CHK được thiết kế và xây dựng nhằm phục vụ tàu bay, hành khách, hàng hóa và các phương tiện di chuyển trên mặt đất. Do đặc tính là một tổ hợp vận tải phức tạp, các đối tượng phục vụ khác nhau đòi hỏi cần phải cung cấp trang thiết bị cơ sở hạ tầng khác nhau. Thông thường thì CHK được chia thành 02 khu vực: khu hoạt động bay (the Airside), khu vực công cộng (the Landside) 1.1 Khu bay – Airside Khu hoạt động bay: là khu vực được thiết kế và xây dựng để phục vụ việc cất hạ cánh, di chuyển và đậu lại của tàu bay trong CHK, SB.
Đường băng – Runway: Là một khu hình chữ nhật được xác định trên sân bay mặt đất dùng cho tàu bay hạ cánh và cất cánh. Đường lăn – Taxiway: Là đường xác định trên sân bay mặt đất dùng để tàu bay lăn và nối bộ phận này với bộ phận khác của sân bay. Sân đỗ – Apron: Là khu vực xác định trên sân bay mặt đất cho tàu bay đỗ phục vụ khách lên xuống, xếp dỡ bưu kiện hay hàng hoá, nạp nhiên liệu, đỗ thường hay đỗ bảo dưỡng tàu bay.2 Khu vực công cộng – Landside Khu vực cộng cộng được thiết kế và xây dựng nhằm để phục vụ việc đi lại của hành khách, luân chuyển của hàng hóa và di chuyển của các phương tiện trên mặt đất. Nhà ga – Terminal 7 Khu vực đỗ xe – Parking facilities Đường và cơ sở hạ tầng vận tải trong CHK – Airport road & Transport facilities: Một tuyến đường trên mặt đất trong khu hoạt động chỉ được dùng cho xe cộ.5 Các khu vực trong CHK, SB [19, 101] 1.4 Phân loại hệ thống các CHK, SB 1.1 Căn cứ vào loại tuyến hàng không mà nó phục vụ 1.
Cảng hàng không quốc tế: là CHK phục vụ tàu bay 8 tuyến hàng không quốc tế cất hạ cánh. Những cảng này sẽ được thiết kế để đạt tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Cảng hàng không dự bị quốc tế: là CHK phục vụ tàu bay tuyến hàng không quốc tế cất hạ cánh trong trường hợp đặc biệt. Qui mô của nó có thể nhỏ hơn CHKQT nhưng có đủ điều kiện tối thiểu để tiếp nhận tàu bay tuyến quốc tế theo dự kiến.
Những Cảng này sẽ được thiết kế để đạt tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế nhưng có một số hạn chế nào đó. Cảng hàng không nội địa: là CHK chủ yếu phục vụ vận chuyển theo tuyến hàng không nội địa nối các trung tâm hành chính và văn hóa lớn của đất nước. Cảng hàng không địa phương (Sân bay dịch vụ): chủ yếu phục vụ vận tải theo đường hàng không địa phương nối các điểm dân cư nằm trong một phần lãnh thổ của đất nước, ví dụ như một miền. Cảng hàng không chính: CHK nằm trên tuyến bay cho phép tàu bay cất hạ cánh thường xuyên theo lịch.
Cảng hàng không dự bị: CHK cho phép tàu bay cất hạ cánh trong những trường hợp đặc biệt Một sân bay hoặc CHK có thể là chính hoặc dự bị tuỳ theo từng trường hợp. Ví dụ, sân bay tuyến này là chính nhưng đối với tuyến khác lại là phụ. Khi tàu bay cất cánh theo hành trình cất hạ cánh tại các sân bay chính, nhưng nó luôn được thông báo sân bay dự bị trên tuyến bay để cất hạ cánh trong những trường hợp đặc biệt. Việc dự trữ nhiên liệu của tàu bay được tính đủ cho cất hạ cánh tại sân bay chính trên tuyến và cho cả khi phải bay tiếp để hạ cánh tại sân bay dự bị.
Sân bay quân sự: Phục vụ cho các mục đích quân sự. Sân bay dân dụng: Sân bay phục vụ cho các mục đích dân dụng. Sân bay thử nghiệm: Sân bay phục vụ cho các nhà máy hoặc các xưởng sửa chữa bay thử nghiệm tàu bay. Sân bay huấn luyện: Phục vụ cho mục đích huấn luyện.
Sân bay phục vụ cho tàu bay sử dụng trong các nhiệm vụ kinh tế quốc dân: Nông nghiệp, chụp ảnh hàng không, bảo vệ rừng, phục vụ y học dầu khí, v. Sân bay vận tải hành khách: Sân bay phục vụ cho việc vận chuyển hành khách. Sân bay vận tải hàng hoá: Sân bay phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá. Sân bay tuyến: Phục vụ tàu bay bay theo tuyến bay.
Sân bay đầu: Sân bay phục vụ cho tàu bay xuất phát đầu tuyến. Sân bay cuối: Sân bay phục vụ cho tàu bay hạ cánh cuối tuyến bay. Sân bay trung gian: Sân bay phục vụ cho tàu bay hạ cánh trên tuyến bay nhưng không phải sân bay đầu và cuối. Sân bay chính: Sân bay đầu, trung gian và cuối tuyến bay.
Sân bay dự bị: Sân bay trên tuyến bay không phải sân bay đầu, cuối và trung gian. Sân bay Nội địa: Sân bay phục vụ cho tuyến bay nội địa. Sân bay Quốc tế: Sân bay phục vụ cho tuyến bay 10 quốc tế. Sân bay thường xuyên: Sân bay cho tàu bay cất hạ cánh thường xuyên.
Sân bay bay hạn chế: Cho tàu bay cất hạ cánh theo thời gian hạn chế. Sân bay ngày (đêm): Sân bay cho tàu bay cất hạ cánh ban ngày hay ban đêm hay cả ngày đêm. Sân bay trên mặt đất: Sân bay xây dựng trên mặt đất, là các sân bay ta thường nói đến. Sân bay nước: Cho tàu bay cất hạ cánh trên mặt nước.
Trên sân bay nước, người ta khai thác tàu bay đặc biệt gọi là tàu bay trên nước (thủy phi cơ). Sân bay tìm kiếm cứu nạn: Sân bay phục vụ cho các mục đích tìm kiếm cứu nạn bằng tàu bay.2 Căn cứ vào chức năng (dân dụng) của sân bay 1. Sân bay cơ bản: là các sân bay đáp ứng đầy đủ các nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá, dung lượng vận chuyển hành khách lớn hơn 25.000 hành khách/năm, có xét yếu tố cạnh tranh. Sân bay gần đủ số khách đó thì do yếu tố giao thông và chính sách xã hội, kết hợp an ninh quốc phòng v.
Loại sân bay này thông thường có kế hoạch bay thường kì. Loại này còn có thể gọi là CHK, hiện nay Việt Nam quan tâm đến loại này. Sân bay dịch vụ: là các sân bay có số khách dưới 25.000 hành khách/năm, dễ bị cạnh tranh, đáp ứng một số nhu cầu khác bao gồm: + Dịch vụ y tế, cứu trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai. 11 + Huấn luyện, thể thao cho các câu lạc bộ hàng không.
+ Bay phục vụ các dịch vụ taxi + Giao thông đường bộ khó khăn, chính sách xã hội, kết hợp an ninh quốc phòng. + Chụp ảnh, thăm dò khoáng sản, v. Loại sân bay này không có lịch bay thường kì cho loại tàu bay cánh bằng. Loại này trùng với khái niệm sân bay hơn.
Hiện nay ở Việt Nam chưa phát triển loại sân bay này, chúng còn ở dạng tiềm năng. Hệ thống CHK, SB của Việt nam chưa đủ các loại sân bay trình bày ở trên. Hiện nay mới chỉ quy hoạch hệ thống sân bay cho tàu bay vận tải hành khách cho các tuyến bay thường kỳ. Trong hệ thống CHK, SB sân bay Việt nam còn thiếu rất nhiều loại sân bay như: Sân bay huấn luyện, sân bay cho các nhà máy, sân bay thử nghiệm, sân bay cho các tàu bay nhỏ v.3 Phân cấp sân bay theo ICAO Trên thế giới, vì hoạt động hàng không có tính chất quốc tế nên các nước và các tổ chức liên quan đến hoạt động này phải được cung cấp và phải cung cấp cho nhau những thông tin tối thiểu chung nhất về CHK, SB.
Thông tin mà tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) sử dụng được thể hiện trong phụ lục 14 (ANEX-14). Theo tài liệu này, tiêu chuẩn ICAO chỉ liên quan đến phần sân bay chứ không liên quan đến toàn bộ CHK. Phân loại sân bay theo mã hiệu sân bay (Reference code), mã chữ và số của sân bay có nghĩa như trong bảng 1.