Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH VÀ BIẾN DẠNG CÔNG TRÌNH 1. Phân loại chuyển dịch biến dạng công trình Chuyển dịch công trình được định nghĩa là sự thay đổi vị trí công trình trong không gian so với vị trí ban đầu của nó, có thể chia chuyển dịch công trình thành hai loại: - Chuyển dịch thẳng đứng: là sự thay đổi vị trí công trình trong mặt phẳng thẳng đứng. Trong thực tế, để đơn giản và tiện lợi người ta quen gọi chuyển dịch thẳng đứng hay sự trồi lún của công trình là độ lún, kí hiệu bằng chữ S.
Giá trị S mang dấu dương (+) nếu công trình bị trồi hoặc mang dấu âm (-) nếu công trình bị lún xuống. - Chuyển dịch ngang: là sự thay đổi vị trí công trình trong mặt phẳng nằm ngang. Chuyển dịch ngang có thể diễn ra theo một hướng xác định (hướng chịu áp lực lớn nhất) hoặc theo hướng bất kỳ, ký hiệu là Q. Biến dạng công trình là sự thay đổi hình dạng và kích thước công trình so với trạng thái ban đầu của nó.
Biến dạng công trình là hậu quả tất yếu của sự chuyển dịch không đều của công trình. Các biến dạng thường gặp là cong, vặn xoắn, rạn nứt. Nếu công trình bị biến dạng nghiêm trọng thì có thể dẫn đến sự cố. Chuyển dịch và biến dạng công trình thường diễn ra phức tạp theo thời gian và được nghiên cứu bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có phương pháp quan trắc bằng các phương pháp trắc địa.
Nguyên nhân gây ra chuyển dịch biến dạng công trình Các công trình bị chuyển dịch biến dạng là do tác động của hai yếu tố chủ yếu, đó là điều kiện tự nhiên và quá trình xây dựng, vận hành công trình. * Tác động của các yếu tố tự nhiên bao gồm: - Khả năng lún, trượt của lớp đất đá dưới nền móng công trình và các hiện tượng địa chất công trình, địa chất thủy văn khác. - Sự co giãn của đất đá. - Sự thay đổi của các điều kiện thủy văn theo nhiệt độ, độ ẩm và mực nước ngầm.
* Tác động của các yếu tố liên quan đến quá trình xây dựng, vận hành công trình bao gồm: - Ảnh hưởng của trọng lượng bản thân công trình. - Sự thay đổi các tính chất cơ lý đất đá do việc quy hoạch cấp thoát nước. - Sự sai lệch trong khảo sát địa chất công trình, địa chất thủy văn. - Sự suy yếu của nền móng công trình do thi công các công trình ngầm dưới công trình.
-3- - Sự thay đổi áp lực nên nền móng công trình do xây dựng các công trình khác ở gần. - Sự rung động của nền móng công trình do vận hành máy móc và hoạt động của các phương tiện giao thông. Mục đích và nhiệm vụ quan trắc biến dạng công trình Quan trắc chuyển dịch biến dạng công trình là để xác định mức độ chuyển dịch biến dạng, nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây chuyển dịch biến dạng và từ đó có biện pháp xử lý, đề phòng những tai biến đối với công trình. Cụ thể là: - Xác định giá trị chuyển dịch biến dạng để đánh giá mức độ ổn định của công trình; - Kiểm tra việc tính toán thiết kế công trình; - Nghiên cứu quy luật biến dạng trong các điều kiện khác nhau và dự đoán biến dạng của công trình trong tương lai; - Xác định các loại biến dạng có ảnh hưởng đến quá trình công nghệ, vận hành công trình.
Nội dung bản đề cương quan trắc Bản đề cương quan trắc hay còn gọi là phương án kinh tế - kỹ thuật được thiết kế tùy thuộc vào tầm quan trọng của công trình, điều kiện địa chất công trình của khu vực xây dựng, các đối tượng đo và đảm bảo các nội dung sau: - Phần giới thiệu chung: Giới thiệu mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và yêu cầu của công tác quan trắc; giới thiệu các đặc điểm hiên trạng của công trình trong thời gian đang thi công, trong thời gian vận hành và các đặc điểm khác có liên quan đến công trình quan trắc. - Thiết kế hệ thống mốc đo. - Thiết kế sơ đồ đo và đánh giá độ chính xác của phương án thiết kế, xác lập cấp đo, chu kì đo. - Các phương pháp đo và quy trình đo.
- Chọn máy, dụng cụ đo và tiến hành các yêu cầu kiểm nghiệm. - Các quy định cụ thể khi đo đạc, yêu cầu kiểm tra kết quả đo tại hiện trường. - Phương pháp xử lý số liệu đo. - Phương pháp tính toán các thông số biến dạng.
- Phân tích đánh giá độ ổn định của các mốc chuẩn. - Các vấn đề về vật tư, kinh phí, nhân lực, an toàn lao động và các vấn đề khác. Trong quá trình thi công nếu có thay đổi về phương án kỹ thuật hoặc đề cương kỹ thuật cần phải có văn bản cụ thể kèm theo thiết kế bổ sung. NGUYÊN TẮC CHUNG THỰC HIỆN QUAN TRẮC CHUYỂN DỊCH VÀ BIẾN DẠNG CÔNG TRÌNH Việc quan trắc chuyển dịch và biến dạng công trình được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau đây: - Mục đích cuối cùng của bất kỳ phép đo đạc nào cũng để xác định tọa độ không gian (X, Y, H) của một điểm trong một hệ tọa độ nào đó.
Quan trắc khác với đo đạc ở chỗ ngoài xác định 3 tham số không gian của điểm còn phải xác định thêm thông số thời gian t. Điều đó có nghĩa là để xác định chuyển dịch biến dạng công trình cần đo đạc ở nhiều thời điểm, so sánh để tìm ra chuyển dịch. Mỗi thời điểm đo đạc gọi là một chu kỳ. Lần đo đạc đầu tiên gọi là chu kỳ 0.
- Chuyển dịch và biến dạng công trình được so sánh tương đối với một "đối tượng" khác được xem là ổn định. Đối tượng được xem là ổn định trong quan trắc có thể là công trình liền kề ổn định hoặc các mốc khống chế có độ ổn định rất cao. - Trên thực tế, chuyển dịch biến dạng công trình thường có giá trị nhỏ và diễn ra âm thầm theo thời gian. Vì vậy, để có thể phát hiện được chuyển dịch biến dạng cần phải sử dụng các phương pháp và phương tiện thiết bị có độ chính xác cao để tiến hành quan trắc.
- Trong mỗi chu kỳ quan trắc, việc tính toán bình sai lưới phải được thực hiện trong cùng một hệ thống tọa độ hoặc độ cao đã chọn ngay từ chu kỳ đầu tiên. Chỉ bình sai lưới quan trắc trong hệ thống các điểm cơ sở ổn định sau khi đã tiến hành phân tích đánh giá độ ổn định các điểm lưới khống chế cơ sở. YÊU CẦU ĐỘ CHÍNH XÁC VÀ CHU KỲ QUAN TRẮC 1. Yêu cầu độ chính xác quan trắc Việc xác lập hợp lý độ chính xác quan trắc mang ý nghĩa kỹ thuật.
Nếu chuyển dịch của công trình diễn ra chậm chạp (tức tốc độ chuyển dịch nhỏ) mà quan trắc với độ chính xác thấp thì sẽ không phát hiện được chuyển dịch vì sai số đo có khi còn lớn hơn giá trị chuyển dịch. Ngược lại, nếu chuyển dịch của công trình xảy ra nhanh thì vẫn có thể phát hiện được chuyển dịch của công trình ngay cả khi quan trắc với độ chính xác thấp. Tuy nhiên xảy ra một mâu thuẫn đó là chỉ khi quan trắc được một số chu kỳ mới biết được tốc độ chuyển dịch của công trình, từ đó mới đưa ra độ chính xác quan trắc hợp lý. Trong khi đó, độ chính xác cần thiết quan trắc lại được đề ra ngay từ khi lập đề cương quan trắc.
Vì vậy, cần đưa ra yêu cầu độ chính xác theo hai giai đoạn: Giai đoạn đầu của quá trình xây dựng và giai đoạn khai thác sử dụng và vận hành công trình. Giai đoạn đầu của quá trình xây dựng Trong giai đoạn này, yêu cầu độ chính xác độ lún công trình chủ yếu phụ thuộc vào tính chất cơ lý đá dưới nền móng công trình và phụ thuộc vào đặc -5- điểm kết cấu, vận hành công trình. Theo đó, độ chính xác quan trắc chuyển dịch các công trình công nghiệp và dân dụng được quy định trong bảng 1. Yêu cầu độ chính xác quan trắc lún và chuyển dịch ngang CT Loại nền nhà và công trình SSTP cho phép (mm) Nhà và công trình xây dựng trên nền đá gốc và nửa đá gốc 1 Nhà và công trình xây dựng trên nền đất cát, đất sét và các loại đất 3 chịu nén khác Các loại đập, đất đá chịu áp lực cao 5 Các loại công trình xây dựng trên nền đất đắp, đất bùn chịu nén kém 10 Các loại công trình bằng đất đắp 15 1.
Giai đoạn khai thác sử dụng và vận hành công trình Trong giai đoạn này thường đã quan trắc được một số chu kỳ, vì vậy có thể biết được quy luật chuyển dịch của công trình. Dựa vào giá trị chuyển dịch dự báo có thể xác định độ chính xác quan trắc lún được xác định theo biểu thức: S ti − S t (i −1) mS .ti là yêu cầu độ chính xác ở thời điểm ti Sti, St(i-1) là độ lún (dự báo) ở thời điểm ti, ti-1 là hệ số đặc trưng cho độ tin cậy của kết quả quan trắc, thông thường = 4 6 1. Chu kỳ quan trắc Khoảng thời gian t giữa hai chu kỳ quan trắc biến dạng mang ý nghĩa kinh tế và kỹ thuật. Nếu chuyển dịch công trình diễn ra chậm mà thời gian giữa hai chu kỳ quan trắc ngắn (chu kỳ đo nhiều) thì khó phát hiện được chuyển dịch, đồng thời lãng phí thời gian và công sức.
Ngược lại, nếu chuyển dịch của công trình diễn ra nhanh mà thời gian giữa hai chu kỳ quan trắc quá dài sẽ rất nguy hiểm, vì khi đó công trình có thể đã bị biến dạng hoặc bị phá hủy. Thời gian tiến hành các chu kỳ đo được xác định trong khi thiết kế kỹ thuật quan trắc lún. Chu kỳ quan trắc phải được tính toán sao cho kết quả quan trắc phải phản ánh được thực chất quá trình lún của công trình. Tham số quan trọng nhất đóng vai trò quyết định việc chọn chu kỳ đo lún là tốc độ lún của công trình.
Một cách sơ lược chúng ta nhận thấy là: Tốc độ lún càng lớn thì chu kỳ quan trắc càng dày và ngược lại, tốc độ lún càng nhỉ thì có -6- thể chọn chu kỳ quan trắc thưa hơn. Ngoài ra, chu kỳ quan trắc còn phải phụ thuộc cả vào độ chính xác mà chúng ta có thể thực hiện được. Giả sử S là độ lún của một mốc nào đó trong lưới đo lún và mS là sai số xác định độ lún.