Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Viết số La mã, chữ in hoa đậm.1:Mục lớn Viết số La mã, dấu chấm phía sau 1.Mục Viết số A-rập, dấu chắm-phía sau (1) Mục nhỏ Viết số A-rập, trong ngoặc đơn a) Ý lớn Vhữ cải thường, ngoặc đơn phía sau ` - Ý nhỗ Gach dau dòng, đấu cộng hoặc chấm. THUYET TRINH KHOA HOC "Người nghiên cứu nào cũng phải thuyết trình các công trình nghiên cứu của mình. Nhiều người cho rằng, có những diễn giả có “khoa nói” luôn tạo được sự lôi cuốn khi thuyết trình, trong khi những người khác 'không có khả năng này.
115 Quả thật, “khoa nói” có vai trò quan trọng trong thuyết trình. Tuy nhiên, nhiều sinh viên không hề có khoa nói, nhưng được hướng dẫn cầu trúc lôgic của trình bày đã hoàn toàn làm chủ được việc thuyết trình của mình và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với điểm cao. Thực tế cho thấy, kỹ năng thuyết trình có thể luyện tập. Sinh viên dù không có khoa nói hoặc nói kém vẫn có thể luyện tập.
Thật vậy, ngôn ngữ nói od cấu trúc lôgic gồm 4 bộ phận hợp thành như trong bảng 5. Câu trúc của một thuyết trình khoa học TT CÁU TRÚC THUYÉT TRÌNH TRA LOI CAU HOI 1 | Vấn đề thuyết trình : Đưa luận điểm gì đây? 2_ | Luận điểm của bản thuyết trình Chứng minh luận điểm nào? 3. | Luan cứ đễ chứng minh Chứng minh bằng cái gi? 4 | Phương pháp thuyết trình Chứng minh bằng cách nào? 5. Vấn đề thuyết trình Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi bản thuyết trình.
Mỗi khi chuẩn bị thuyết trình, người nghiên cứu phải tự trả lời cho mình câu hỏi: Tác giả định đưa luận điểm nào ra trước đồng nghiệp (hoặc hội đồng)? Chẳng hạn: Trẻ hư tại ai2 Trước khi thuyết trình, người nghiên cứu luôn phải biết nêu câu hỏi cho mình. Nêu câu hỏi, chứ không chỉ dừng lại ở việc nêu chủ đề, _ Nhiều bạn đồng nghiệp thường bị lẫn 2 khái niệm: chú để (subject) ˆ với vấn để (problem). Chủ đề được trình bày đưới-hình thức một mệnh đề khuyết, còn vẫn đề phải được trình bày đưới đạng một câu nghỉ vấn. Ví dụ, trong trường hợp này, chủ để là “nguyên nhân trẻ hw”, con van dé (tức câu hỏi) là “trẻ hư tại ai?”.
Nêu được cđu hỏi sẽ giúp cho ban thuyết trình có nội dung phong phú và làm xuất hiện rất nhiều ý tưởng hay cho bản thuyết trình. Luận điễm thuyết trình Mỗi bản thuyết trình phải c6 ít nhất 1 luận điểm khoa học của tác giả. Người thuyết trình lưôn phải lưu ý rằng, mỗi bản thuyết trình phải trả lời được câu hỏi: Tác giả định chứng minh điều gì? Chẳng hạn, để trả lời câu hôi đã nêu, tác giả đưa luận điểm: Trẻ hư tại cha, chứ # khong phai tai mẹ. ries ì , 5 “pala huận điểm thì phải rõ rang, khéng chung chung.
Cac ban đồng nghiệp lưu ý rằng, mỗi luận điểm chỉ hêu được một góc cạnh của từ đuy khoa học. Luận điểm nêu lên mối liên hệ chử yếu. Chẳng hạn, "trẻ hiện nay: hư tại ›bế là chính, chứ không phải trẻ hư chỉ do tại mẹ", hoặc "trẻ nghiện rượu là tại bố, trẻ lười lao động là tại mẹ”. Khi trình bày luận điểm, không nên nói: “Trẻ hư một mặt là do cha, một mặt là do mẹ”, Nói như vậy chưa thấy được nguyên nhân cụ thể nào.
Luan cứ của thuyết trình -' Nói luận cứ ‹ củaa thuyết trình là nói những bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận điểm của bản thuyết trình. Luận cứ trả lời câu hỏi: Chứng minh bằng cái gì? i ; ‘Ban’ thuyét trình phong phú nhờ luận cứ. Người nghiên cứu càng đừa được nhiều luận cứ thì luận điểm cảng có sức thuyết phục. Với mỗi đối tượng nghe thuyết trình, người thuyết trình phải đưa ra những hiận cuứ khác nhau: : Ỷ ‘Bai | giảng thiếu luận cứ Tà một bài giảng nghèo nan.
Bai giảng chỉ lặp đã lặp: lại một vài luận cứ là một bài giảng buồn té. Khi đưa một luận điểm để bảo vệ trước một hội đồng hoặc một đối tác, người thuyết trình phải chuẩn bị rất nhiều luận cứ từ các góc cạnh khác nhau. Với mỗi câu hỏi của một ủy viên hội đồng, hoặc thành viên của hội thảo khoa học, người nghiên cứu phải dùng những luận cứ khác nhau để làm rõ luận điểm của mình. Hơn nữa, những luận cứ mạnh phải “đề dành” đến cuối bản thuyết trình, đề phòng lúc người đối thoại “tấn công”.
Phương pháp thuyết trình Có 3 phương pháp thuyết trình: diễn địch, quy nạp, loại suy. 117 a) Dién dich ` Diễn địch là phép suy luận đi từ cái chung đến cái riêng. Trong phương pháp điễn dịch, người thuyết trình đi: từ lý thuyết đến thực tiến. Người đối thoại là trí thức là nhóm người thích hợp với cách lập luận diễn địch.
Ví dụ, để giảng cho sinh viên về phương pháp chứng minh một giả thuyết nghiên cứu, có thể bắt đầu bằng một cơ sở lý thuyết đã được trình bày trong môn lôgïc học “cầu trúc lôgic của phép chứng minh”, Đó là luận đề, luận cứ và luận chứng, trong đó: ~ Luận để là điều cần chứng minh, tức là giả thuyết nghiên cứu. Luận đề trả lời câu hỏi: Cần chứng mình cái gì? ~ Luận cứ là căn cứ để chứng minh luận đề. Luận cứ trả lời câu hỏi: Chứng minh bằng cái gì? - Luận chứng là cách lập luận, trong nghiên cứu khoa học là phương pháp. Luận chứng trả lời câu hôi: Chứng mình bằng cách nào? 5) Quy nap nạp là phép suy luận đi từ cái riêng đến cái chung.
Trong Quy phương pháp quy nạp, người thuyết trình đi từ các sự kiện thực tế để khái quát hóa thành lý thuyết. Đối với nhóm có trình độ học vấn tương đối thấp so với chủ để trình bày, phương pháp lập luận quy nạp tỏ ra hiệu quả hơn phương pháp diễn dịch. Ví dụ, cũng để giảng về cách chứng minh một giả thuyết nghiên cứu cho một đối tượng có mặt bằng học vấn thấp hơn như sinh viên cao đẳng, giáo viên có thể dùng phương pháp quy nạp, — Công tố viên muốn buộc tội bị cáo phải đưa ra các yếu tố cầu thành tội phạm. ~ Luật sư muốn gỡ tội cho bị cáo phải đưa ra được những tình tiết giảm nhẹ tội trạng.
: — Cảnh sát nghi ngờ người nào đó ăn trộm phải đưa ra được những bằng chứng đúng, thuyết phục. Qua các ví dụ trên, chúng ta thấy: 118 ~ Buộc tội, gỡ tội, nghi ngờ đều là những giả thuyết. — Yếu tố cầu thành tội phạm, tình tiết giảm nhẹ tội trạng, bằng chứng là những /uớn cứ. _ Trong tất cả các trường hợp trên, chúng ta thấy, muốn chứng mình một giả thuyết đều phải có luận cú.
Trường hợp này, chúng ta không bàn gì về lý thuyết lôgic học, hoàn toàn không xuất phát từ cấu trúc logic của phép chứng minh, luận đề, luận cứ, Tuận chứng. ` '@Ø) Loại suy Loai.suy là phép.từ cái riêng đến cái riêng. Trong phương pháp loại suy, người thuyết trình đi từ những câu chuyện đơn giản tưởng như chẳng có liên quan gì đến chủ đề thuyết trình, để giải thịch những luận điểm rất trừu tượng về mặt lý thuyết. Đối với những chủ để khó, trình độ người nghe thấp, người thuyết trình cần ưu tiên sử dụng phương pháp này.
Vi dy, có thể bat đầu về cấu trúc logic của phép chứng minh bằng câu chuyện các cụ xưa đạy rằng: “Nói có sách, mách có chứng”. “Noi” và “mách” là đưa giả thuyết, còn “sách” và “chứng” đều là luận cứ. Điều các cụ nói hệt như cấu trúc của phép chứng minh. NGON NGỮ KHOA HỌC Ngôn.
ngữ khoa học hoàn toàn khác So với ngôn ngữ văn học. Người nghiên cứu cần lưu ý trước hết một đặc điểm rất quan trọng là, ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ lôgic, chỉ biểu ý, không biểu cảm, nhất là không thể hiện thái độ yêu, ghét trước đối tượng khảo sát. Ngôn ngữ khoa học:có những đặc điểm sau: 5. Van phong khoa học - .„ Lời văn trong tài liệu.
khoa học thường được dùng ở thê bị động. Trong tài liệu khoa học không nên viết: Chúng tôi đã thực hiện công cuộc điều tra trong 5 tháng, mà viết: Công cuộc điều tra đã được tiến hành trong 5 thang. Ai diéu tra không quan trong, ma quan trong 1a céng việc điều tra đã được thực hiện trong 5 tháng. 119 Tuy nhién, trong trường hợp cần nhắn mạnh chủ thể tiễn hành thì lại cần viết ở thể, chủ động.
Ví dụ: Nhóm sinh viên xã hội học đã thực hiện một đợt điều tra trong 5 tháng. Trong đoạn này, tác giá. muốn nhấn mạnh, chính là nhóm sinh viên xã hội học, chứ không phải là nhóm nghiên cứu viên không có kiến thức về các phương pháp của xã hội học. Văn phong khoa học.
phái giúp trình bày một cách khách quan kết quả nghiên cứu, tránh thể hiện tình cảm yêu, ghét đối với đối tượng khảo sát. Có những cách thể hiện rất cần thiết cho một bài bút chiến lại không hoàn toàn thích hợp trong khoa học. ˆ Xét vé mặt lôgic học, ngôn ngữ khoa học dựa trên các phán đoán biện thực (còn gọi là phán đoán thực nhiên hoặc phản đoán minh nhiên), là loại phán đoán thấy sao nói vậy, không quy về bản chất khi không đủ luận cứ, thể hiện thái độ khách quan, không xen tình cảm yêu, ghét vào các sự kiện khoa học. Không nên sử dụng ngôn ngữ “địch, ta”, “tên này”, “thẳng kia”, “bọn nọ”.
Thay vì nói “Bọn Pháp/Giặc Pháp đã nỗ súng tấn công Hà Nội” thì nhà nghiên cứu nên viết “Người Pháp đã nỗ súng tấn công Hà Nội”. | Chẳng hạn, trong các nghiên cứu sử học, chúng ta có thể đọc được những cách viết đại loại như: "7êz bại tướng Ngột-lương-hợp-thai lại láo xược sai sử sang dụ vua Trần đầu hàng", "Trần Thái Tông cam ghét, khinh bi quan x4m luoc, tin tudng vitng chắc ở chính nghĩa,. nhìn thấu - dã tâm xâm lược của vua Nguyên". Người đọc có thể nhận thấy, tác giả đã thể hiện tình cảm rất mạnh trong khi trình bày kết quả nghiên cứu.
Nhà nghiên cứu hoàn toàn có thể cung cấp những sự kiện xác thực cho người đọc bằng thái độ-khoa-hợc trong văn phong:-€bẳng -hạn;-có thê viết: "Sau khi thất bại, Tướng Ngột-lương-hợp-thai đã phái sứ giả sang đưa yêu sách đòi vua Trần đầu hàng, Vua Trần không những không đáp lại yêu sách, mà còn hạ chiếu trói sứ giả nhà Nguyên trả về nước", Đương nhiên, sẽ là rất giá trị, nếu người nghiền cứu trích được một câu của Vua Trần được chép trong chính sử, ví dụ: “Tên sử giả láo xược kia! Ta đã nhìn rõ đã tâm xâm lược của vua tôi nhà các ngượi!