chương 1, người học đạt được các mục tiêu cụ thể sau: * Kiến thức: - Hiểu được một số khái niệm cơ bản: tình cảm; kĩ năng xã hội; phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non. - Nắm được đặc điểm phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội của trẻ mầm non từng độ tuổi. - Hiểu rõ vai trò của sự phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ mầm non. * kĩ năng: - Tự nghiên cứu tài liệu, giải quyết các bài tập.
- Hợp tác nhóm, thuyết trình và diễn giải các nội dung liên quan đến bài tập lí Luận văn thạc sĩ KT thuyết và thực hành. * Thái độ - Tập trung, chú ý trong giờ học. - Tôn trọng, cầu thị trong quá trình hoạt động nhóm. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm xúc cảm, tình cảm Trong khi phản ánh thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn tỏ thái độ của bản thân với thế giới mà mình phản ánh. Mỗi khi gặp một hiện tượng, sự việc nào đó trong cuộc sống, con người sẽ nảy sinh những thái độ tâm lý khác nhau, có thể hiểu là đang có cảm xúc. Từ điển thuật ngữ Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng [6] chủ biên cho rằng “Tình cảm là những trạng thái xúc cảm ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của họ”. 1 Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [18]: “Cảm xúc là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái độ của chính mình đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, với người khác và với bản thân.
Sự hình thành cảm xúc là một một điều kiện tất yếu của sự phát triển con người như là một nhân cách”. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn [27] cũng đã chỉ ra rằng: “Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ”. Như vậy có thể hiểu xúc cảm là những rung động của con người trước một tình huống cụ thể, xúc cảm mang tính nhất thời, không ổn định. Còn tình cảm là những xúc cảm xuất hiện thường xuyên, lâu dài, ổn định,.
“Tình cảm là thái độ cảm xúc mang tính ổn định của con người đối với hiện thực khách quan, nó phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển xúc cảm trong điều kiện xã hội”. Tình cảm được chia thành tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao: Tình cảm cấp Luận văn thạc sĩ KT thấp liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn những yêu cầu sinh học của cơ thể. Tình cảm cấp cao liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu xã hội của con người.
Tình cảm cấp cao bao gồm tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ. Trẻ mầm non là tuổi hình thành và phát triển nhân cách. Trẻ tiếp thu và học hỏi từ môi trường xung quanh để tạo nên sự phát triển và hoàn thiện cá nhân. Giáo dục tình cảm cho trẻ phải bắt đầu từ những cảm xúc đơn giản và gần gũi nhất.
Trẻ phải nhận biết những biểu hiện cảm xúc của người khác để điều chỉnh các biểu hiện và hành vi cho phù hợp, đồng thời nhận ra được cảm xúc của bản thân và học cách thể hiện chúng cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Khái niệm tình cảm xã hội Có nhiều cách hiểu về khái niệm tình cảm xã hội khác nhau, nhà tâm lý học xã hội A.G Kovaliop cho rằng: “Tình cảm xã hội là những cấu trúc tâm lý bền vững hay là những thuộc tính tâm lý của một cá nhân riêng rẽ cũng như của những nhóm người có tổ chức. Tình cảm nói lên đặc điểm trong thái độ cảm xúc của con người đối với 2 những mặt khác nhau của đời sống xã hội” (Nguồn: http://www.org/what-is- sel/). Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Tình cảm xã hội là những tình cảm phụ thuộc vào suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành động của người khác” (Nguồn: https://en.org/wiki/Social_emotions) Theo tác giả Jack P.
Shonkoff trong nghiên cứu của mình cho rằng “Tình cảm xã hội là những cảm xúc thể hiện sự trải nghiệm khác nhau của con người phụ thuộc vào suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành động của bản thân và người khác, "như đã trải nghiệm, nhớ lại, dự đoán hoặc tưởng tượng ngay từ đầu". Tình cảm xã hội đôi khi được gọi là tình cảm đạo đức, bởi vì chúng đóng vai trò quan trọng trong hành vi đạo đức và ra quyết định về đạo đức (Nguồn: http://www.org/what-is-sel/). Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “Tình cảm xã hội là một thuộc tính tâm lý ổn định thể hiện thái độ của con người đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội, biểu hiện ở khả năng hiểu và quản lý cảm xúc, cảm nhận và thể hiện sự đồng cảm, thiết lập và duy trì mối quan hệ tích cực và đưa ra quyết định có trách nhiệm”. Luận văn thạc sĩ KT Tình cảm xã hội của trẻ em là một thuộc tính tâm lý ổn định thể hiện thái độ của trẻ đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội, thể hiện ở khả năng trẻ nhận biết và biểu lộ cảm xúc bản thân, hiểu và quản lý cảm xúc, cảm nhận và thể hiện sự đồng cảm, đồng thời thiết lập và duy trì mối quan hệ tích cực và đưa ra quyết định có trách nhiệm với bản thân.
Sự phát triển tình cảm xã hội (Social emotional development) là một khả năng của trẻ để hiểu cảm xúc của người khác, tự mình kiểm soát cảm xúc và hành vi của bản thân và nhận thức được cảm xúc của với các bạn đồng trang lứa. Muốn trẻ em đạt được các kĩ năng cơ bản đó, trẻ cần sự hỗ trợ hướng dẫn từ người lớn, sự hợp tác từ bạn bè và sự tự chủ, tự giác của bản thân. Cảm giác tin tưởng, tự tin, niềm tự hào, tình bạn, tình cảm và sự vui vẻ là một phần của sự phát triển tình cảm kĩ năng xã hội. Mối quan hệ tích cực của một đứa trẻ với người lớn, sự tin tưởng và quan tâm là chìa khóa thành công về mặt xã hội và tình cảm.
Như vậy có thể thấy, xúc cảm, tình cảm, tình cảm xã hội có vài trò to lớn trong đời sống con người nói chung và trẻ em nói riêng. Những xúc cảm, tình cảm tích cực thúc đẩy trẻ hoạt động, khắc phục những khó khăn, trở ngại để đạt được mục tiêu mà 3 trẻ đặt ra. Ngược lại những xúc cảm, tình cảm tiêu cực sẽ cản trở sự tham gia tích cực của trẻ vào các hoạt động, làm giảm đi cơ hội phát triển của trẻ ở nhiều mặt khác nhau. Khái niệm kĩ năng xã hội Kĩ năng xã hội là bất kỳ năng lực nào tạo thuận lợi cho sự tương tác và giao tiếp với những người khác, nơi các quy tắc xã hội và các mối quan hệ được tạo ra, truyền đạt và thay đổi theo các cách nói và không lời.
Quá trình học các kĩ năng này được gọi là xã hội hóa. Kĩ năng xã hội là công cụ giúp mọi người giao tiếp, học hỏi, yêu cầu giúp đỡ, đáp ứng nhu cầu theo những cách thích hợp, hòa nhập với người khác, kết bạn, phát triển mối quan hệ lành mạnh, bảo vệ bản thân và nói chung, có thể tương tác với xã hội một cách hài hòa. Kĩ năng xã hội xây dựng các đặc điểm cá tính cần thiết như sự tin cậy, tôn trọng, trách nhiệm, công bằng, chu đáo và tính công dân. Trong từng giai đoạn phát triển của trẻ em, với phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng và đa dạng hơn, các kĩ năng xã hội cũng phát triển dần lên.
Môi trường xã hội của con người khá rộng, từ gia đình, trường lớp, tới các tổ chức khác trong cộng đồng. Luận văn thạc sĩ KT Ở mỗi nơi với riêng điểm đặc biệt sẽ hỏi những người có năng lực xã hội riêng biệt. Những kĩ năng này giúp cho quá trình gắn kết xã hội diễn ra bền chặt và sâu sắc hơn. Kĩ năng xã hội chính là những cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống xã hội nhằm giúp trẻ thích nghi và phát triển tốt hơn.
Gắn kết xã hội theo định nghĩa của Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (United Nations Development Programme - UNDP) là sự gắn kết xã hội là chất lượng của sự tồn tại giữa nhiều nhóm cùng sinh sống trong một xã hội. Các nhóm có thể khác nhau về nguồn gốc dân tộc, văn hoá xã hội, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị, tầng lớp xã hội hoặc khu vực kinh tế hoặc dựa trên các đặc điểm cá nhân như giới tính và tuổi tác. Chất lượng cùng tồn tại giữa các nhóm có thể được đánh giá theo các chiều hướng tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, các giá trị chia sẻ và sự tham gia của xã hội, sự hài lòng và hạnh phúc trong đời sống cũng như công bằng về cơ cấu và công bằng xã hội. “Sự gắn kết xã hội, hay đúng hơn là tái thiết sự gắn kết xã hội, là một trong những kết quả mang lại từ biện pháp can thiệp kiến tạo hòa bình có hiệu quả”.
Như vậy giáo dục phát triển các kĩ năng xã hội cho trẻ em không nằm ngoài mục đích cuối cùng chính là sự gắn kết xã hội, các kĩ năng xã hội giúp đứa trẻ có thể 4 cùng sống và hoạt động hợp tác trong một cộng đồng nhất định. Điều này hoàn toàn tương đồng với bốn trụ cột đã được khẳng định trong triết lý giáo dục của UNESCO: “Học để chung sống cùng nhau” (Learning to live together) là cấp độ cao nhất của việc giáo dục trẻ thơ (Learning to know Learning to do Learning to be Learning to live together). Như vậy, giờ đây việc học không chỉ nhằm nâng cao hiểu biết, tầm nhìn; học để có kiến thức, kĩ năng làm việc; học để cùng chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác với người khác và dân tộc khác; học để khẳng định những giá trị tồn tại của cá nhân; mà ý nghĩa của việc học đã được mở rộng ở nội hàm mới: Đó là học để thay đổi mình và gắn kết thế giới.