Chương III MỘT SỐ NỘI DUNG cơ BẢN CỦA LUẬT DÂN sự I. ĐỐI TƯỢNG ĐIÈU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIÈU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN Sự 1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định.
Những nhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Luật Dân sự Việt Nam có đối tượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là nhóm quan hệ nhân thân và nhóm quan hệ tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (Điều 1 BLDS năm 2005). Như vậy, theo quy định của Điều 1 Bộ luật Dân sự đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đến các quan hệ không chỉ trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình mà còn liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại, lao động.
a/Quan hệ tài sản Quan hệ tài sản là quan hệ xã hội hình thành giữa con người với con người thông qua một tài sản cụ thể, tài sản đó có thể được mua, bán, tặng, cho thuê. Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định. Tài sản trong dân sự được quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự, bao gồm: V Vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản. Quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau: 123 - Quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là các quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu thụ sản phẩm cũng như cung ứng dịch vụ trong xã hội.
Quan hệ tài sản luôn gắn liền với quan hệ sản xuất và phù hợp với quan hệ sản xuất vốn là hạ tầng của xã hội. Quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia mang ý chí của các chủ thể, phù hợp với các ý chí của các chủ thể tham gia và phải phù hợp với ý chí của nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật Dân sự. Nhà nước dùng các quy phạm pháp luật Dân sự tác động lên các quan hệ kinh tế, hướng cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi theo ý chí của nhà nước. - Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hoá tiền tệ, là đặc trưng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những quan hệ trong Luật Dân sự không có sự đền bù tương đương như quan hệ tặng, cho, thừa kế. Nhưng những quan hệ này không phải là quan hệ phổ biến trong trao đổi. b/ Quan hệ nhân thân là quan hệ phát sinh chủ yếu từ lợi ích tình thần, nó liên quan đến danh dự, nhãn phẩm, uy tín của con người. Đây là những mối quan hệ luôn gắn với một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao được cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 24 BLDS, năm 2005).
Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với một chủ thể nhất định, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Luật Dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó. Đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân (Điều 25 BLDS năm 2005). Quan hệ nhân thân do Luật Dân sự điều chỉnh có những đặc điểm sau: - Quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch được cho các chủ thể khác.
124 - Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền, vì giá trị nhân thân và giá trị tiền tệ là hai đại lượng không tương đương và không thể trao đổi ngang giá được. Các quan hệ nhân thân xuất phát từ quyền nhân thân do Luật Dân sự điều chỉnh có thể chia làm hai nhóm: + Quan hệ nhân thân gắn với tài sản, đó là những quan hệ xuất phát từ một lợi ích tinh thần nhưng được trả một khoản tiền như tiền nhuận bút, tiền thưởng cho phát minh sáng kiến. + Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản, là những quan hệ mà từ lợi ích tinh thần đó không thể hiện được bằng tiền như tên gọi, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Các quyền nhân thân ngoài Luật Dân sự còn được nhiều ngành luật điều chỉnh như Luật Hình sự, Luật Hiến pháp.
Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự Mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội khác nhau nên phương pháp Nhà nước sử dụng để tác động vào các quan hệ xã hội đó cũng khác nhau. Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự là cách thức, biện pháp mà nhà nước tác động đến quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí của nhà nước phù hợp với lợi ích của Nhà nước, xã hội, và cá nhân. Bao gồm các phương pháp sau: a/Bình đẳng về địa vị pháp lý của chủ thể Luật Dân sự Mọi chủ thể khi tham gia vào quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân do Luật Dân sự điều chỉnh đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý, không phân biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo. b/ Tự định đoạt của các chủ thể Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết thỏa thuận đó không vi phạm pháp luật.
Phương pháp này thể hiện quyền tự quyết định của các chủ thể khi lựa chọn một quan hệ pháp luật cụ thể, căn cứ vào khả năng, mục 125 đích, điều kiện mà họ tham gia vào quan hệ đó. Các chủ thể được tự mình lựa chọn đối tác, tự xác lập quyền và nghĩa vụ mà không có sự áp đặt của bất kỳ ai. Tuy nhiên nó phải phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội. Điều 10 BLDS năm 2005 quy định: "Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác".
c/Hoà giải giữa các chủ thể Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích. Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự. Phương pháp này đã trở thành một nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự (Điều 12). d/ Trách nhiệm dân sự của người vỉ phạm Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.
Các quan hệ mà Luật Dân sự điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá và tiền tệ, do đó việc vi phạm nghĩa vụ của một bên là dẫn đến thiệt hại về tài sản với bên kia. Bởi vậy trách nhiệm dân sự trước tiên là trách nhiệm tài sản, nhàm bù đắp, phục hồi lại tài sản cho bên bị thiệt hại. Từ sự phân tích về đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh ở trên có thể đi đến định nghĩa sau: Luật Dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tổng họp các quy phạm pháp luật quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia các quan hệ đó. CHỦ THẺ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN sự Chủ thể của quan hệ pháp luật Dân sự là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật Dân sự, gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
Cá nhân Cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật Dân sự phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. - Năng lực pháp luật là khả năng của mỗi cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự (Điều 14 BLDS năm 2005). Năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân do hệ thống pháp luật mỗi nước quy định, nó tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Năng lực pháp luật của mỗi cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết (khoản 3 Điều 14 BLDS năm 2005).
Tuy nhiên pháp luật có quy định một ngoại lệ "một người sinh ra vẫn còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết", vẫn được hưởng di sản của người chết để lại. - Năng lực hành vi là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình, xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 BLDS năm 2005. Năng lực hành vi của cá nhân là thể hiện khả năng của chính chủ thể tạo ra quyền và nghĩa vụ và chính họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Năng lực pháp luật thì con người sinh ra đã được pháp luật ghi nhận, nhưng năng lực hành vi nó phụ thuộc vào độ tuổi và yếu tố lý trí và ý chí của các cá nhân để xác định.
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân, bao gồm: + Năng lực hành vi đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị tâm thần mất trí. + Năng lực hành vi một phần (Điều 20 BLDS năm 2005). Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ 127 giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ để thực hiện nghĩa vụ được xác lập, thực hiện giao dịch và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản họ có, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.