Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam - Dùng Cho Đại Học, Cao Đẳng

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam dành cho sinh viên đại học, cao đẳng. Tài liệu học tập chính thức, kiến thức cơ bản về lịch sử Đảng.

Trường đại học

Bộ giáo dục và đào tạo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình
231
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Giáo Trình Lịch Sử Đảng Đại Học Cao Đẳng 55 ký tự

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc nghiên cứu, học tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ với sinh viên mà còn với toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo trình Lịch sử Đảng: Đại học, Cao đẳng không chỉ là một tài liệu lịch sử Đảng mà còn là kim chỉ nam giúp hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dân tộc. Việc tiếp cận kiến thức lịch sử Đảng một cách khoa học, khách quan và toàn diện là nền tảng để củng cố niềm tin vào đường lối cách mạng của Đảngtư tưởng Hồ Chí Minh. Giáo trình Lịch sử Đảng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các mốc lịch sử Đảng quan trọng, từ đó rút ra những bài học quý giá cho công cuộc Đổi mới và xây dựng đất nước. Đây là một môn học không thể thiếu trong chương trình lịch sử Đảng tại các cấp học, đặc biệt là giáo dục chính trị đại học và cao đẳng, giúp hình thành thế hệ công dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ quốc. Các bài giảng Lịch sử Đảng cần được đổi mới phương pháp để phát huy tính chủ động của người học, gắn lý luận với thực tiễn. Mục đích tối thượng của giáo trình Lịch sử Đảng là làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển của tổ chức Đảng, khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đồng thời góp phần tổng kết những kinh nghiệm lịch sử phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giáo dục niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường cách mạng Hồ Chí Minh. Yêu cầu của việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử Đảng là trình bày khách quan, toàn diện và có hệ thống các sự kiện cơ bản về lịch sử Đảng qua từng giai đoạn, so sánh với yêu cầu thực tiễn để phân tích, đánh giá các hoạt động của Đảng, khẳng định những thắng lợi, thành tựu và những sai lầm, khuyết điểm. Việc này giúp khái quát các sự kiện, vạch ra bản chất, khuynh hướng chung và những quy luật khách quan chi phối sự vận động của lịch sử. Đặc biệt, phải căn cứ vào các nguồn sử liệu chính thức như Văn kiện Đảng Toàn tậpHồ Chí Minh Toàn tập.

1.1. Đối tượng và mục đích môn học Lịch sử Đảng tại Việt Nam

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là khoa học chuyên ngành nghiên cứu về tổ chức và hoạt động đa dạng, phong phú của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ mật thiết với tiến trình lịch sử dân tộc và thời đại. Đối tượng nghiên cứu cụ thể bao gồm quá trình hình thành, phát triển của tổ chức Đảng và các phong trào cách mạng của quần chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mục đích chính của khoa học này là làm sáng tỏ toàn bộ quá trình đó, khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, khoa học Lịch sử Đảng làm rõ những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, góp phần tổng kết những kinh nghiệm lịch sử phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, giáo trình Lịch sử Đảng giúp giáo dục chính trị đại học và cao đẳng, xây dựng niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường cách mạng Hồ Chí Minh.

1.2. Vai trò chức năng cốt lõi của khoa học Lịch sử Đảng

Lịch sử Đảng với tư cách là khoa học về những quy luật phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng, có hai chức năng chính: chức năng nhận thức khoa họcchức năng giáo dục tư tưởng chính trị. Chức năng nhận thức khoa học nhằm phục vụ việc cải tạo xã hội theo đúng quy luật phát triển của xã hội Việt Nam. Việc hiểu biết thấu đáo kiến thức lịch sử Đảng là cơ sở khoa học để dự kiến những xu hướng phát triển xã hội, từ đó góp phần tạo cơ sở lý luận để Đảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách. Chức năng giáo dục tư tưởng chính trị giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân trau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó, môn học Lịch sử Đảng củng cố quyết tâm phấn đấu thực hiện đường lối cách mạng của Đảng, góp phần xây dựng phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng.

II. Giải pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng Vượt qua thách thức 54 ký tự

Giáo trình Lịch sử Đảng: Đại học, Cao đẳng là tài liệu nền tảng, nhưng việc nghiên cứu và tiếp thu hiệu quả lại đòi hỏi những giải pháp cụ thể để vượt qua các thách thức. Một trong những thách thức lớn là việc tránh sa vào chủ nghĩa giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa, đảm bảo kiến thức lịch sử Đảng được tiếp nhận một cách sáng tạo và phù hợp với thực tiễn. Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam quan trọng trong quá trình này, giúp người học không chỉ ghi nhớ sự kiện mà còn thấu hiểu bản chất, ý nghĩa sâu sắc của đường lối cách mạng của Đảng. Việc tổng kết các mốc lịch sử Đảng và những bài học kinh nghiệm cần được thực hiện một cách thường xuyên để nâng cao trình độ lý luận, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc cập nhật giáo trình lịch sử Đảng để phản ánh những diễn biến mới và các bài học rút ra từ Công cuộc Đổi mới. Việc nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để nâng cao trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần khắc phục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong Đảng. Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát sâu sắc, toàn diện kinh nghiệm lịch sử đã tích lũy được trong cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng, nếu không hiểu được mối liên hệ lịch sử tất yếu và qua đó hiểu tiến trình phát triển có thể có của các sự kiện, Đảng mới có thể đề ra được một đường lối chính trị hoàn chỉnh.

2.1. Phương pháp luận Mác Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trong học tập

Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với khoa học Lịch sử Đảng. Đây là những cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứu. Việc vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử là chìa khóa để lý giải sự xuất hiện và phát triển của Đảng như một kết quả tất yếu của lịch sử đấu tranh. Chỉ có đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể mới có thể đánh giá khoa học các giai đoạn phát triển của Đảng, làm sáng tỏ địa vị khách quan và vai trò lịch sử của Đảng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

2.2. Khắc phục giáo điều kinh nghiệm chủ nghĩa khi tìm tài liệu lịch sử Đảng

Trong quá trình nghiên cứu và học tập Lịch sử Đảng, cần đặc biệt chú ý khắc phục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa. Giáo điều là việc áp dụng máy móc lý thuyết mà không xem xét bối cảnh cụ thể, còn kinh nghiệm chủ nghĩa là dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà bỏ qua lý luận khoa học. Để tránh điều này, cần đi sâu khái quát, phân tích các sự kiện lịch sử trong sự vận động, phát triển và mối liên hệ nội tại của chúng. Giáo trình Lịch sử Đảng phải khuyến khích tư duy phản biện, so sánh lý luận với yêu cầu thực tiễn. Nguồn tài liệu tham khảo Lịch sử Đảng cần đa dạng, nhưng ưu tiên các văn kiện chính thống của Đảng và tác phẩm của Hồ Chí Minh để đảm bảo tính xác thực và khoa học. Giảng dạy và học tập cần sử dụng phương pháp tích hợp, phát huy tính chủ động của sinh viên, khuyến khích tự nghiên cứu và kiểm tra tính đúng đắn của thông tin.

III. Phương pháp tiếp cận Giáo Trình Lịch Sử Đảng hiệu quả 54 ký tự

Để thực sự thấu hiểu và nắm vững kiến thức lịch sử Đảng, không chỉ đơn thuần là việc đọc thuộc lòng các sự kiện. Cần có một phương pháp tiếp cận khoa học, đặc biệt khi sử dụng Giáo trình Lịch sử Đảng: Đại học, Cao đẳng. Phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử Đảng không chỉ gói gọn trong việc tìm hiểu các tài liệu mà còn bao hàm việc phân tích, tổng hợp và rút ra bài học. Việc nắm vững và vận dụng quan điểm lịch sử trong khoa học Lịch sử Đảng cho phép lý giải được tính sáng tạo cách mạng trong đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như làm rõ được cơ sở phương pháp luận của hoạt động lý luận của Đảng trong quá trình nghiên cứu để quyết định những đường lối, chủ trương. Khoa học Lịch sử Đảng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch sử nói chung, như các phương pháp lịch sử và lôgích, đồng đại và lịch đại, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa. Trong đó, quan trọng nhất là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích cùng sự kết hợp hai phương pháp ấy. Nhiệm vụ đầu tiên là làm sáng tỏ nội dung các giai đoạn lịch sử đấu tranh của Đảng, với những sự kiện cụ thể sinh động và trong mối liên hệ có tính nhân quả giữa chúng với nhau. Song nếu phương pháp lịch sử không có sự kết hợp với phương pháp lôgích thì sẽ giảm đi tính chất khái quát của nó, không thể vạch ra được bản chất, khuynh hướng chung và những quy luật khách quan chi phối sự vận động lịch sử. Hoạt động của Đảng trong quá khứ cơ bản là hoạt động lãnh đạo cách mạng, lịch sử của Đảng chính là lịch sử của sự lãnh đạo cách mạng, lịch sử của hoạt động nhận thức quy luật, đề ra đường lối, chủ trương cách mạng. Hoạt động đó đã được ghi lại, được thể hiện trong các cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, qua phát ngôn của các lãnh tụ của Đảng. Hoạt động xây dựng Đảng trong lịch sử về tư tưởng và tổ chức cũng được thể hiện qua Điều lệ của Đảng. Do đó, để nghiên cứu lịch sử của Đảng, phương pháp quan trọng có tính đặc thù, bắt buộc là phải nghiên cứu các văn kiện Đảng, nhất là văn kiện các Đại hội và Hội nghị Trung ương. Nắm vững nội dung các văn kiện Đảng sẽ hiểu được đường lối, chủ trương lãnh đạo cách mạng của Đảng trong các thời kỳ lịch sử, tức là nắm được hoạt động chính yếu của Đảng trong quá khứ, hiểu được lịch sử của Đảng. Tính đúng đắn của sự lãnh đạo của Đảng đã được kiểm nghiệm qua hành động thực tiễn của cán bộ, đảng viên, qua hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng tổ chức, qua phong trào cách mạng của quần chúng.

3.1. Phân tích văn kiện Đảng và các mốc lịch sử Đảng quan trọng

Việc nghiên cứu văn kiện Đảng là yếu tố cốt lõi để hiểu sâu sắc Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện này, đặc biệt là Văn kiện Đảng Toàn tậpHồ Chí Minh Toàn tập, cung cấp những tư liệu chính thức, xác thực về đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng qua từng thời kỳ. Thông qua phân tích các cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị, người học có thể nắm bắt được tiến trình phát triển tư duy, chiến lược của Đảng, cũng như những mốc lịch sử Đảng quan trọng. Điều này giúp tránh những hiểu lầm, xuyên tạc và củng cố cơ sở lý luận cho kiến thức lịch sử Đảng.

3.2. Cách thức vận dụng phương pháp tích hợp trong bài giảng Lịch sử Đảng

Phương pháp tích hợp trong bài giảng Lịch sử Đảng đòi hỏi việc kết nối kiến thức lịch sử Đảng với các môn học khác như triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế chính trị. Điều này giúp sinh viên thấy được mối liên hệ biện chứng, tính hệ thống của các môn lý luận chính trị. Giảng viên cần phát huy tính chủ đạo của mình trong việc định hướng, khuyến khích sinh viên chủ động tự nghiên cứu, kiểm tra thông tin và trao đổi kiến thức. Đây là cách để nâng cao chất lượng giáo dục chính trị đại học, làm cho môn học Lịch sử Đảng trở nên sinh động, hấp dẫn và gắn liền với thực tiễn, không chỉ trong việc ôn thi lịch sử Đảng mà còn trong tư duy và hành động.

IV. Ý nghĩa thực tiễn của Lịch sử Đảng Kiến tạo tương lai dân tộc 59 ký tự

Nghiên cứu, học tập và nắm vững tri thức khoa học về Lịch sử Đảng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc định hình thế hệ công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng và lòng trung thành sâu sắc. Ý nghĩa lịch sử Đảng không chỉ dừng lại ở việc ôn lại quá khứ mà còn là hành trang quý báu để đương đầu với những thách thức phức tạp của thời đại, củng cố tính kiên định cách mạng. Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là con đường để bồi dưỡng đạo đức cách mạng, noi gương Người - người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc nghiên cứu Lịch sử Đảng còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống cách mạng, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, khơi dậy niềm tự hào đối với Đảng và dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó có tác dụng bồi dưỡng ý chí chiến đấu cách mạng, thôi thúc người học noi gương những thế hệ đi trước, tiếp tục cuộc chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo để bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân đã đổ bao xương máu để giành được, xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Việc hiểu rõ các mốc lịch sử Đảng giúp nhận diện những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, từ đó vận dụng vào Công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam, được mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

4.1. Nâng cao phẩm chất chính trị tinh thần yêu nước qua kiến thức lịch sử Đảng

Kiến thức lịch sử Đảng là nền tảng vững chắc để xây dựng phẩm chất chính trị cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Qua việc nghiên cứu Lịch sử Đảng, người học sẽ hiểu rõ sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ cha anh, từ đó củng cố lòng trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Việc thấu hiểu ý nghĩa lịch sử Đảng giúp tăng cường tính kiên định cách mạng trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, đồng thời nuôi dưỡng tinh thần yêu nước chân chính và ý chí bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

4.2. Học tập kinh nghiệm lịch sử góp phần vào Công cuộc Đổi mới

Những bài học rút ra từ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là kho tàng kinh nghiệm quý giá cho Công cuộc Đổi mới đất nước hiện nay. Việc tổng kết thành công và chưa thành công trong quá trình lãnh đạo cách mạng giúp Đảng và nhân dân tránh lặp lại sai lầm, phát huy những mặt mạnh. Giáo trình Lịch sử Đảng không chỉ là tài liệu tham khảo lịch sử Đảng mà còn là cẩm nang để vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào thực tiễn, giải quyết các vấn đề hiện tại, đẩy mạnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội và phát triển bền vững đất nước.

V. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Các yếu tố then chốt 57 ký tự

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Để hiểu rõ sự kiện trọng đại này, cần phân tích bối cảnh thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nơi đã nảy sinh những tiền đề cho sự xuất hiện của một chính đảng cách mạng. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, xã hội Việt Nam do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, dẫn đến sự phân hóa sâu sắc các giai cấp và mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục. Bản chất của "sứ mạng khai hoá" đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém. Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa. Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó. Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản như Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, phong trào của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Việt Nam Quốc dân Đảng đều lần lượt thất bại, chứng tỏ sự bất lực của các hệ tư tưởng cũ trong việc giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh đó, vai trò của Nguyễn Ái Quốc, người sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở nên đặc biệt quan trọng. Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Đề cương môn học Lịch sử Đảng thường bắt đầu với chương này để cung cấp nền tảng vững chắc cho người học.

5.1. Bối cảnh thế giới và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự chuyển mình từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc, kéo theo sự bành trướng xâm lược thuộc địa. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công đã mở ra thời đại mới, thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc, tạo ảnh hưởng sâu rộng tới các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam. Trong nước, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị, tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn, làm biến đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế và xã hội. Nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm, phụ thuộc nặng nề vào Pháp. Các giai cấp mới ra đời hoặc bị phân hóa như địa chủ, nông dân, tư sản, tiểu tư sản, và đặc biệt là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân Việt Nam, dù non trẻ, đã sớm thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, trở thành lực lượng tiên phong.

5.2. Vai trò Nguyễn Ái Quốc và hành trình tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc

Trước yêu cầu bức thiết phải tìm con đường cứu nước mới, tháng 6-1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Người khảo sát thực tiễn cách mạng tại nhiều quốc gia, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản và nhận thấy chúng 'chưa đến nơi'. Sau khi tiếp cận Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin vào tháng 7-1920, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tours, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, đánh dấu bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, mở đường cho việc giải quyết đúng đắn đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam. Từ đó, Người tích cực truyền bá lý luận giải phóng dân tộc theo học thuyết Mác-Lênin, chuẩn bị tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5.3. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và ý nghĩa lịch sử trọng đại

Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - Cương lĩnh Hồ Chí Minh. Cương lĩnh này xác định phương hướng chiến lược là 'làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản', với nhiệm vụ cốt lõi là chống đế quốc giành độc lập dân tộc. Về lực lượng cách mạng, Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân, lôi kéo tiểu tư sản, trí thức. Sự ra đời của Đảng cùng với cương lĩnh chính trị đúng đắn đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng, làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, mở ra bước ngoặt quyết định cho lịch sử dân tộc Việt Nam.

VI. Đảng lãnh đạo giành chính quyền 1930 1945 Bài học kinh nghiệm 58 ký tự

Giai đoạn 1930-1945 là thời kỳ đầy thử thách, chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong vai trò lãnh đạo. Ngay sau khi thành lập, Đảng đã phải đối mặt với sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp và những thách thức từ bối cảnh quốc tế. Tuy nhiên, bằng bản lĩnh và đường lối cách mạng của Đảng đúng đắn, Đảng đã dẫn dắt nhân dân vượt qua khó khăn, từng bước tiến lên giành thắng lợi. Các tài liệu lịch sử Đảnggiáo trình Lịch sử Đảng đã ghi nhận rõ ràng quá trình này. Từ tháng 1 đến tháng 4-1930 là bước khởi đầu của phong trào. Nhiều cuộc bãi công của công nhân đã nổ ra liên tiếp ở nhà máy xi măng Hải Phòng, hãng dầu Nhà Bè (Sài Gòn), các đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thủy. Phong trào đấu tranh của nông dân cũng diễn ra ở nhiều địa phương như Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Truyền đơn, cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản xuất hiện trên các đường phố Hà Nội và một số địa phương khác. Những cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động chống đế quốc và phong kiến tay sai, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò tiên phong, là màn đầu của một cao trào cách mạng mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo. Thực tiễn đấu tranh cách mạng quyết liệt với kẻ thù là trường học rèn luyện và phát triển của Đảng. Nhiều quần chúng ưu tú trong giai cấp công nhân, nông dân, trí thức yêu nước đã gia nhập Đảng. Đến tháng 3-1931, Đảng đã có 2.400 đảng viên là những chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Đảng, luôn luôn nêu cao khí tiết cách mạng, gắn bó với quần chúng. Đảng thực sự là đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân trên bán đảo Đông Dương. Các bài giảng Lịch sử Đảng thường nhấn mạnh tính chất thử thách và bài học kinh nghiệm của giai đoạn này, đặc biệt là sự kiên cường của cán bộ, đảng viên trong nhà tù đế quốc, nơi được Hồ Chí Minh ví như 'trường học cách mạng'. Việc cập nhật giáo trình lịch sử Đảng cần tiếp tục phân tích sâu sắc những bài học này để thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về con đường đi tới độc lập, tự do.

6.1. Cao trào cách mạng 1930 1931 và những bài học về đường lối cách mạng của Đảng

Cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, là trận thử thách toàn diện đầu tiên của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Mặc dù bị đàn áp dã man, phong trào này đã thể hiện tinh thần chiến đấu oanh liệt và năng lực cách mạng sáng tạo của nhân dân lao động. Cao trào để lại những kinh nghiệm quý báu về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược phản đế và phản phong kiến, kết hợp phong trào công nhân với phong trào nông dân, thực hiện liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đây được xem là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Tuy nhiên, Luận cương chính trị tháng 10-1930 còn tồn tại hạn chế do nhận thức giáo điều về mối quan hệ dân tộc và giai cấp, chưa nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà nặng về đấu tranh giai cấp, không đề ra được chiến lược liên minh dân tộc rộng rãi. Những hạn chế này sau này đã được Đảng khắc phục.

6.2. Khôi phục củng cố hệ thống tổ chức Đảng và chuẩn bị lực lượng 1931 1935

Sau cao trào 1930-1931, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đối mặt với khủng bố trắng tàn khốc, làm tan vỡ nhiều cơ sở Đảng. Tuy nhiên, bằng bản lĩnh kiên cường, Đảng vẫn tồn tại và nhanh chóng được khôi phục. Trong các nhà tù đế quốc, các đảng viên tiếp tục đấu tranh, huấn luyện lý luận Mác-Lênin, biến nhà tù thành 'trường học cách mạng'. Từ năm 1931-1935, Đảng kiên trì phục hồi hệ thống tổ chức Đảng từ cơ sở đến Trung ương, điển hình là việc thành lập Ban chỉ huy ở ngoài (1934) và tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng (3-1935). Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1932) đã đề ra những yêu cầu đấu tranh thiết thực trước mắt, giúp khôi phục phong trào cách mạng quần chúng và củng cố lực lượng.

6.3. Phong trào Dân chủ 1936 1939 Chống phátxít đòi tự do dân chủ cơm áo

Trong bối cảnh chủ nghĩa phátxít đe dọa hòa bình thế giới và sự ra đời của Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp (1936), Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7-1936 xác định kẻ thù trước mắt nguy hại nhất là bọn phản động thuộc địa và tay sai, đề ra nhiệm vụ chống phátxít, chống chiến tranh đế quốc, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đảng chủ trương lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi, sử dụng các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp. Phong trào Dân chủ (1936-1939) đã dấy lên mạnh mẽ khắp cả nước, với các cuộc bãi công, biểu tình, đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, tạo tiền đề quan trọng cho những bước phát triển sau này.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam I. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1. Tình hình thế giới Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường.

Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc. Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệu người (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km2 và dân số 437,2 triệu). Riêng diện tích các thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km2 với số dân 55,5 triệu (so với diện tích nước Pháp là 0,5 triệu km2 và dân số 39,6 triệu người)1. Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản.

Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân. Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt. Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc châu á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông. Hàng trăm triệu người hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước Nga là nhà tù của các dân tộc".

Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công, các dân tộc 1. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t. 9 thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền liên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết (1922).

Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"1. Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.

Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập. Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.

Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh. Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.

Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp. Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.

Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án.; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp tục thi hành chính sách 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 10 chia để trị rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục.

Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị. Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam. Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn.

Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm. Chủ nghĩa tư bản thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ. Có một số địa chủ bị phá sản.

Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai. Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số. Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề. Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt.

Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi. của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát. Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp. Còn số đông vẫn phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây là sở hữu của chính họ.

Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động. Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất. Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ. Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé. Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt. Ra đời trong điều kiện bị 11 tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối.

Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận: Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ