Chương 1 nhằm cung cấp các thông tin cơ bản về Kiểm toán môi trường như: Các khái niệm về kiểm toán và kiểm toán môi trường; phân loại kiểm toán môi trường; đối tượng, mục tiêu và ý nghĩa của kiểm toán môi trường. Sau khi học xong chương này sinh viên phải hiểu được các nội dung sau: các khái niệm liên quan đến kiểm toán môi trường; phân loại kiểm toán môi trường; đối tượng, mục tiêu và ý nghĩa của kiểm toán môi trường. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN TỚI KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG 1. Sự ra đời của kiểm toán môi trường Kiểm toán môi trường có nguồn gốc từ khu vực Bắc Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ XX.
Đây là giai đoạn mà nền công nghiệp và kinh tế của khu vực Bắc Mỹ phát triển mạnh mẽ, các loại chất thải, nước thải, khí thải phát sinh từ các hoạt động công nghiệp và các hoạt động kinh tế khác đã làm ảnh hưởng xấu tới môi trường, sự ô nhiễm môi trường lan rộng và trở nên nghiêm trọng (William C. Trước các vấn đề bức xúc về môi trường hàng loạt các công cụ luật pháp, kinh tế đã được đưa ra nhằm quản lý tốt môi trường và bắt buộc các tổ chức, nhà máy, cơ sở sản xuất phải tuân theo. Trong bối cảnh đó, kiểm toán môi trường (KTMT) đã được ra đời và được xem như là một công cụ quản lý sắc bén và hiệu quả. Ban đầu, KTMT ra đời nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân đáp ứng các trách nhiệm pháp lý về bảo vệ môi trường.
Một thời gian sau, KTMT được thừa nhận là một công cụ quản lý môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (EPA Victorya, 2007). Kiểm toán môi trường thực sự phát triển mạnh mẽ vào những năm 80 của thế kỷ XX ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, ngày nay thì nó đã được phát triển rộng rãi trên quy mô toàn cầu. Mỹ, Canada, Anh là những nước đầu tiên thực hiện hoạt động kiểm toán có hiệu quả và thành công. Các nước này cũng có những cơ quan tiến hành hoạt động kiểm toán môi trường chuyên nghiệp nhất với những luật sư, chuyên gia đầy kinh nghiệm, có uy tín, được cấp chứng chỉ chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm toán viên môi trường (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
Ngày nay, khi vấn đề môi trường ngày càng trở nên phức tạp và mang tính chất toàn cầu thì càng có nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng kiểm toán môi trường trong việc bảo vệ môi trường. Đây là một xu hướng phát triển tất yếu, khách quan. Khái niệm về kiểm toán Kiểm toán có nguồn gốc từ Latin là “Audit”, nguyên bản là “Auditing”. Từ “Auditing” lại có nguồn gốc từ động từ trong tiếng Latin “Audive”, nghĩa là nghe.
Từ 1 nguồn gốc này ta có thể hình dung ra hình ảnh của một cuộc kiểm toán cổ điển, đó là việc một người ghi chép đọc to lên cho một bên độc lập “nghe” và chấp nhận. Trải qua thời gian dài phát triển, ngày nay đã có rất nhiều các khái niệm khác nhau về kiểm toán. Theo Liên đoàn kiểm toán quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC) thì: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”. Ở nước ta, theo Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân (Ban hành theo Nghị định số 07/CP ngày 29/01/1994 của chính phủ) đã chỉ rõ: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn hợp lý của các tài liệu, sổ kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này”.
Từ cách diễn đạt này ta có thể thấy, ban đầu khái niệm kiểm toán chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tài chính, sau này mới được mở rộng sang các lĩnh vực khác, trong đó có môi trường. Một cuộc kiểm toán có thể hiểu đơn giản là một cuộc kiểm tra và rà soát với sự tham gia của “ba người” hay “ba nhóm” (gồm người/nhóm người kiểm toán còn gọi là kiểm toán viên/đội kiểm toán; người/nhóm người bị kiểm toán hay còn gọi là đối tượng kiểm toán; người/nhóm người thứ ba gọi là khách hàng) và trải qua ba giai đoạn: - Đánh giá: Đánh giá vấn đề cần kiểm toán thực sự là gì; - Kiểm tra: So sánh các vấn đề cần kiểm toán có tuân thủ triệt để các tiêu chuẩn nội bộ, tiêu chuẩn địa phương hay các tiêu chuẩn, quy định, luật pháp đề ra hay không và mức độ tuân thủ đến đâu; - Chứng nhận kết quả: Chứng nhận hay minh chứng kết quả kiểm toán (phải có dấu xác nhận của cơ quan kiểm toán có uy tín). Khái niệm về kiểm toán môi trường Kiểm toán môi trường là một thuật ngữ bắt nguồn từ ngành kế toán tài chính nhằm chỉ khái niệm về phép kiểm chứng các hoạt động tác nghiệp và xác nhập về số liệu (Kiểm toán tài chính). Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về kiểm toán môi trường.
Năm 1998, Viện thương mại Quốc tế ICC (International Chamber of Commerce) đã đưa ra khái niệm ban đầu về kiểm toán môi trường như sau:“Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lý bao gồm sự ghi chép một cách khách quan, công khai các tổ chức môi trường, sự vận hành các thiết bị, cơ sở vật chất với mục đích quản lý môi trường bằng cách trợ giúp quản lý, kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ các chính sách của công ty bao gồm sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn môi trường”. Theo tiêu chuẩn ISO 14010 (1996) phần 3.9 thì kiểm toán môi trường được định nghĩa như sau:“Kiểm toán môi trường là một quá trình thẩm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản, bao gồm việc thu thập và đánh giá một cách khách quan các bằng chứng nhằm xác định những hoạt động, sự kiện, hệ thống quản lý liên quan đến môi trường hay các thông tin về những kết quả của quá trình này cho khách hàng”. 2 Theo Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2003) thì kiểm toán môi trường là: “Công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hóa về việc làm thế nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị môi trường hoạt động tốt”. Như vậy, đã có khá nhiều các định nghĩa khác nhau về kiểm toán môi trường được đưa ra.
Trong các định nghĩa trên thì định nghĩa về kiểm toán môi trường của tổ chức ISO đưa ra trong phần 3.9 của tiêu chuẩn ISO 14010 năm 1996 được coi là đầy đủ và hoàn chỉnh nhất. Từ định nghĩa này ta có thể rút ra những điểm mấu chốt của kiểm toán môi trường: Là quá trình kiểm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản: Việc thực hiện kiểm toán môi trường tuân theo các bước, trình tự trong một hệ thống nhất định. Tất cả các hoạt động trong quy trình kiểm toán đều phải lập thành văn bản và có sự ký kết của các bên liên quan. Tiến hành một cách khách quan: Kiểm toán môi trường đánh giá dựa trên các thông tin, số liệu, dữ liệu được thu thập khách quan, không dựa vào ý nghĩ chủ quan của bất cứ cá nhân, tổ chức nào.
Thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán: Các số liệu, dữ liệu, thông tin được các kiểm toán viên thu thập và đánh giá thông qua các phương pháp, kỹ năng, nghiệp vụ trong quá trình kiểm toán. Xác định vấn đề, xem xét có phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán hay không: đối chiếu các bằng chứng thu thập với các chuẩn mực, các quy định, quy chuẩn của pháp luật và các cơ quan nhà nước. Thông tin các kết quả của quá trình này cho khách hàng: Cung cấp các kết quả kiểm toán cho khách hàng (người đứng ra thuê cơ quan kiểm toán môi trường thực hiện cuộc kiểm toán môi trường). Theo như định nghĩa thì kiểm toán môi trường thực chất là một công cụ quản lý nhằm kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả, mức độ phù hợp của các nỗ lực bảo vệ môi trường hay các hệ thống quản lý môi trường của các nhà máy, doanh nghiệp địa phương.
Đây là một cuộc rà soát có hệ thống, liên quan tới việc phân tích, kiểm tra và xác nhận các thủ tục và thực tiễn hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, nhà máy nhằm đưa ra kết luận xem các cơ sở đó có tuân thủ theo những quy định pháp lý, các chính sách môi trường của Nhà nước hay không và cơ sở đó có được chấp nhận về mặt môi trường hay không. Một số thuật ngữ liên quan Kiểm toán viên (Auditor): Còn gọi là người kiểm toán hay thành viên đội kiểm toán được sử dụng để chỉ những người trực tiếp tham gia, tiến hành cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên được phân chia thành kiểm toán viên thông thường và kiểm toán viên trưởng. Kiểm toán viên trưởng (Leader of Audit team): Kiểm toán viên trưởng hay còn gọi là đội trưởng đội kiểm toán, là người đứng đầu nhóm kiểm toán và chịu trách nhiệm chính cho việc thực hiện toàn bộ cuộc kiểm toán môi trường.
3 Đối tượng kiểm toán (Auditee): Là những cá nhân, tổ chức hoặc các cơ sở bị tiến hành kiểm toán. Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các cá nhân, tổ chức, cơ sở mà các hoạt động của họ đang được tiến hành kiểm toán. Khách hàng (Client): Hay còn gọi là bên thứ ba, đây là những người có nhu cầu muốn biết các kết quả của cuộc kiểm toán. Thuật ngữ này dùng để chỉ các cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyển kiểm toán.
Bằng chứng kiểm toán: Hay còn gọi là chứng cứ kiểm toán, là “Các thông tin được xác minh về số lượng hoặc chất lượng, các bản ghi hoặc tuyên bố về sự kiện dựa trên các cuộc phỏng vấn, thẩm tra tài liệu, quan sát các hoạt động và hoàn cảnh, các đo đạc thực nghiệm hoặc các biện pháp khác nằm trong phạm vi kiểm toán”. Phát hiện kiểm toán: “Là kết quả đánh giá bằng chứng kiểm toán thu được thông qua việc so sánh chúng với các tiêu chuẩn kiểm toán đã thỏa thuận. Các phát hiện kiểm toán tạo cơ sở cho báo cáo kiểm toán”. Kết luận kiểm toán: Là quan điểm hoặc sự phán xét chuyên môn của các chuyên gia kiểm toán về đối tượng kiểm toán dựa trên và giới hạn ở các suy luận từ các phát hiện kiểm toán.