C hương 4 PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN 4. Khái quát về các phưong pháp kiểm toán 4. K hải niệm Phương pháp kiểm toán là các biện pháp, cách thức, thù pháp được sừ dụng trong công tác kiếm toán, nhảm thực hiện mục đích kiểm toán đặt ra. Kiểm toán là một ngành khoa học còn non trẻ, hoạt động thực tế dù chưa nhiều, nhưng đến nay kinh nghiệm tích luỹ đã đù cho việc khẳng định kiểm toán là một ngành khoa học độc lập trong cả lý luận và thực tiễn.
Từ những kinh nghiêm thực tế đó đã hình thành một hệ thống phương pháp kiểm toán, tuy chưa hoàn chỉnh nhưng hệ thống phương pháp kiểm toán khá đa dạng, khoa học và sáng tạo. Cũng như các ngành khoa học khác, kiểm toán cũng có những phương pháp chung đó là cơ sờ phương pháp luận và phương pháp kỹ thuật riêng của mình để hình thành những phương pháp xác minh và bày tò ý kiến phù hợp VỚI đối tượng kiểm toán. C ơ s ở phư ơng ph áp luận Tất cả các ngành khoa học kể cả kiểm toán đều phài dựa trên cơ sờ phương pháp luận chung đó là phép biện chứng duy vật. Trong quan hệ với phương pháp kiểm toán chúng ta cẩn quan tâm, quán triệt đầy đủ các mối quan hệ và quy luật khách quan sau: 136 - Thử nhất, quan điểm duy vật biện chứng cho rằng: Các sự vật hiện tượng cũng như các mặt của sự vật hiện tượng đó có mối quan hệ chặt chẽ VỚI nhau.
Như vậy khi xác minh, nhận thức về một mặt hay một sự vật, hiện tượng nào đó phải xem xét nó trong m oi quan hệ biện ch ứ n g VỚI các mặt, các sự vật hiện tượng khác có liên quan Ví dụ: Khi mua hàng bằng tiền mặt thì hàng tồn kho (cụ thê là hàng hoá) tăng, tiên mặt trong quỹ giảm xuông. - Quan điểm thứ hai: Mọi sự vật và hiện tượng đêu vận động, vận động là tuyệt đôi, đứng im là tương đôi. Vì vậy, trong kiểm toán khi nghiên cứu và phán xét mọi sự vật, hiện tượng tại thơi điểm kiểm toán phải có phương pháp nghiên cứu chúng trong trạng thái động, tức là phải xem xét chúng trong cả một khoảng thời gian nào đó hợp lý. Ví dụ: khi xem xét tài khoản tiên mặt, KTV có thể xem xét và so sánh sự bien động của tiền mặt trong kỳ kiểm toán VỚI niên độ kế toán trước hay kỳ kê toán trước.
- Quan điểm thứ ba: Trong nội tại sự vật hiện tượng đều có sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Trong kiểm toán, mối quan hệ này là cơ sờ cho phương pháp kiểm tra cân đối về lượng ví dụ tài sản và nguôn vốn, sô phát sinh Nợ và sô phát sinh Có. - Quan điểm thứ tư: Cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều có bản chất ricng và được biểu hiện dưới các hình thức cụ thể. Vì vậy, khi nghiên cứu và kết luận bản chất sự vật hiện tượng phải xem xét trên những hỉnh thức biểu hiện khác nhau, ờ tính phổ biến cùa chúng.
Ví dụ: tài sản thì phải xem xét cả về giá trị và cả về mặt số lượng, cả trên sổ sách lẫn trong thực tế. 137 Ngoài những quy luật trên, kiểm toán viên còn phải thực hiện đúng quy luật vận động của quá trình nhận thức, đi từ trực quan s i n h đ ộ n g đ e n t ư d u y t r ừ u t ư ợ n g , t ừ c ả m t í n h đ ê n lý t í n h VỚI n h ữ n g bước quan sát, thu thập bằng chứng thực tế rồi mới phân tích, phán đoán, suy lý. Từ đó, mới đưa ra kêt luận của mình. Phương ph áp kỹ thuật Cơ sở về mặt kỹ thuật trước hết phải kể đến phương pháp toán học, trực tiếp là các phương pháp chọn mẫu.
Mặt khác, do đối tượng kiểm toán có quan hệ chặt chẽ với đối tượng của kế toán và của phân tích kinh doanh nên kỹ thuật kiểm toán không thể tách rời các phương pháp kỹ thuật của kế toán và phân tích kinh doanh. Trong quan hệ với đối tượng kiểm toán, chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới hai phần riêng biệt: - Một phần là thực trạng hoạt động tài chính được phản ánh trong các tài liệu kế toán hình thành nên phân hệ phương pháp chửng từ. Phân hệ này bao gồm: + Kiểm toán các cân đối kế toán (kiểm toán cân đối) + Đối chiếu trực tiếp + Đối chiếu lôgic - Phần chưa được phản ánh trong các tài liệu kế toán hình thành nên phân hệ phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ Phân hệ này bao gồm: + Kiểm kê + Điều tra .+ Thực nghiệm 138 Ọua cách phân tích trên, chúng ta thấy phương pháp kiểm toán là sự vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, các bộ môn khoa học tự nhiên và kinh tế vào quá trình thu thập băng chứng, xác minh, đánh giá, nhận xét những nội dung kiểm toán được thế hiện qua các thông tin do đối tượng kiềm toán cung cấp và những tài liệu khác có liên quan, nhằm đảm bảo tính độc lập, khách quan cho kết luận kiềm toán, 4. C ác phưong pháp kiếm toán chứng từ 4.
K iểm toán cân đồi a. Khái niệm Kiểm toán cân đoi là phương pháp dựa trên các cân đôi (phương trinh) kế toán và các cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đôi đó. Dựa vào phép biện chứng duy vật: Trong hàng loạt các mối quan hệ giữa các mặt sự vật hiện tượng xuất hiện môi liên hệ thống nhât và mâu thuẫn giữa hai mặt đôi lập. Trong hoạt động kinh te tài chính cũng xuất hiện nhiều mối liên hệ như vậy.
Trong kiểm toán trước hết phái xét đến cân đối tồng quát theo các mô hình cân đối khái quát Ví dụ: VỚI bảng cán đối tài khoản Tài sản = Vốn chủ sờ hữu + Công nợ Hoặc tỏng số tai sàn = Tổng số nguồn vốn Cân đối kế toán là phương pháp kiểm toán các kiểm toán viên dựa vào các phương pháp cân đối trong kế toán trong quá trinh hình thành kiểm toán 139 b. Phương pháp kỹ íhuật áp dụng: Phương trình kế toán cơ bản: Tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn. Đ ặc điểm cùa đổi tượng kiềm toán Phương pháp cân đối kế toán áp dụng với các đối tượng kiểm toán có chứa đựng các mối quan hệ cân đối. Nội dung kiêm toán Kiểm toán các cân đối tổng quát, thực chất đây là xem xét các mối quan hệ cân đối tổng quát trong đối tượng lciểm toán Trong thực tế có thể có những trường hợp các mối quan hệ cân băng này thường xuyên không được duy tri.
Khi đó, phải xem xét lại bản chất riêng của mối quan hệ. Trong một số trường hợp, do bản thân quy định của chế độ về kinh tế nói chung và về kế toán nói riêng làm cho quan hệ này không cân bằng về lượng. Trong một sô trường hợp khác thiếu cân bằng này hoàn toàn chỉ do lỗi của kế toán Kiểm toán cân đối thực chất là kiểm toán dựa trên các quan hệ cân đối trong từng định khoản kế toán. Vì vậy, kiểm toán các cân đối cụ thể là việc kiểm tra và đối chiếu giữa các sổ sách kế toán, nhật ký, bảng kê, sổ cái.
Trong quá trình kiểm toán các cân đối cụ thể, các kiểm toán viên thường phát hiện các lỗi kiểm toán sau đây: - Quy mô phàn ánh không đúng với thực tế - Phản ánh không phù hợp giữa nội dung kinh tê cùa nghiệp vụ với quan hệ nghiệp vụ thực tế phát sinh. Điều kiện ảp dụng - Phương pháp cân đối kế toán được áp dụng với các đối tượng có tồn tại quan hệ tương đối. Dù quan hệ cân đối tổng 140 quát có tồn tại hay không, kiểm toán các cân đối cụ thể vẫn phái đặt ra. Đối chiếu trực tiếp Khái niệm: Đối chiếu trực tiếp là so sánh (về mặt lượng) trị sô của cùng một chi sô hay cùng một chỉ tiêu trên các chứng từ kiềm toán C ơ sở: Một chi tiêu hay một nội dung được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, được thể hiện ờ nhiều tài liệu khác nhau, bảo quản ờ nhiêu nơi khác nhau.
Nội dung: - ĐÔI chiêu một chì tiêu nào đó của kỳ này với chỉ tiêu đó nhưng ở kỳ trước (đối chiếu ngang) để đánh giá, nghiên cứu mức độ biến động hoặc so sánh giữa các bộ phận tổng thể (đối chiếu dọc) để xem xét cơ cấu, phân bố tùng quần thể - Đối chiếu giữa số dự toán, định mức, kế hoạch với số thực tế đề đánh giá mức độ phấn đấu thực hiện các mục tiêu thể hiện trên các chỉ tiêu tương ứng. - Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu trong cùng một thời kỳ nhưng trên các chứng từ khác nhau: Ví dụ nhu đối chiếu trị sô cùa các chỉ tiêu trên bảng cân đối hay trên các báo cáo với trị sô cùa chính các chỉ tiêu đó nhưng trên các sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp., hay các chi tiêu chứng từ kế toán VỚI chỉ tiêu đó trên các sổ kế toán chi tiết - Đôi chiếu các con số của cùng một chứng từ nhưng được bảo quản, lưu trữ ờ các địa điểm khác nhau. Loại đối chiếu này được thực hiện phổ biến trong kiểm toán các giao dịch với ngân hàng, các khoản thu về bán hàng, các khoản chi về mua hàng. 141 Ví dụ: Đối chiếu giữa hoá đơn GTGT mà đơn vị đuợc kiểm toán giữ với hoá đơn GTGT tại cơ quan thuế giữ và hoá đơn GTGT của khách hàng giữ.
- Đối chiếu trị so cùa các chỉ tiêu với trị số của các yếu tố cấu thành chỉ tiêu đó. Ví dụ: Đối chiếu các yếu tố số lượng, đơn giá VỚI thành tiền trong các chứng từ gốc. Đoi chiếu các khoản mục cấu thành các loại tài sản hoặc nguôn vốn trong bảng cân đối tài sản. - Đối chiếu trị số của các chỉ tiêu cùa đơn vị được kiểm toán với trị số của các chỉ tiêu tương ứng bình quần trong ngành * ưu điêm: Dễ làm nên là phương pháp được sừ dụng rộng rãi * Nhược điểm.
Chỉ sử dụng được trong trường hợp: các chỉ tiêu được hạch toán theo cùng một chuẩn mực, cụ thể là cung nội dung, cùng phương pháp tính, cùng đơn vị, cùng lãnh thổ, cùng quy m ô. và trong khoảng thời gian có điều kiện tương tụ nhau. Đ ổi chiếu logic * Khải niệm.