CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN Trong chương này, giáo trình phân tích, làm rõ khái niệm, chức năng mục tiêu của kiểm toán. Phân loại kiểm toán theo chủ thể, kiểm toán chia thành 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước; phân loại kiểm toán theo mục đích, kiểm toán chia thành 3 loại: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính; quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán. Bản chất của kiểm toán 1. Khái niệm Hoạt động kiểm toán ra đời là để kiểm tra và xác nhận về sự trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, tổ chức; nhằm nâng cao sự tin tưởng của người sử dụng các thông tin từ BCTC đã được kiểm toán.
Kiểm toán có gốc từ latin là "audit", nguyên bản là "audire" có nghĩa là "nghe" do hình ảnh của kiểm toán cổ điển thường được tiến hành bằng cách người ghi chép về tài sản đọc to lên cho một bên độc lập "nghe" rồi sau đó chấp nhận thông qua việc chứng thực. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm toán, tuy nhiên quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền và đạo đức nghề nghiệp tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin của một đơn vị, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Các chuyên gia chính là các kiểm toán viên, những người nắm vững luật pháp và chuyên môn về kế toán, kiểm toán. 5 Theo VSA 200 "Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam": Tính độc lập đảm bảo cho kiểm toán viên không bị chi phối hoặc ảnh hưởng bởi bất cứ yếu tố nào trong suốt quá trình kiểm toán từ khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán khiến cho kết quả kiểm toán bị sai lệch.
Biểu hiện của tính độc lập bao gồm độc lập về chuyên môn, độc lập về kinh tế và độc lập về tình cảm. Độc lập về chuyên môn: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên chỉ tuân theo chuẩn mực chuyên môn và luật pháp, không bị chi phối bởi những tác động khác. Độc lập về kinh tế: Kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn cổ phần, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hoá,. Độc lập về tình cảm: Kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (như bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ máy quản lý (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các trưởng, phó phòng và những người tương đương) trong đơn vị được kiểm toán.
Tùy theo nội dung và tính chất của mỗi loại kiểm toán, mà mức độ độc lập có thể được đòi hỏi khác nhau. Tuy nhiên, yêu cầu về độc lập là đòi hỏi thiết yếu, quan trọng đối với mọi kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán. Tính độc lập chỉ là một khái niệm tương đối, nhưng nó phải là mục tiêu hướng tới và phải đạt được ở mức độ nhất định. Nếu tính độc lập bị vi phạm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, chính vì vậy, khi cuộc kiểm toán bị giới hạn bởi tính độc lập, kiểm toán viên phải khắc phục và nếu không loại trừ được, kiểm toán viên phải giải trình và nêu sự ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán trong báo cáo kiểm toán.
Có thẩm quyền: Các kiểm toán viên được phân công thực hiện cuộc kiểm toán mới là người có đủ thẩm quyền đối với đối tượng được kiểm 6 toán, để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đồng thời có quyền thể hiện ý kiến của mình về sự phù hợp giữa các thông tin đã thu thập được với các chuẩn mực đã được thiết lập. Và thẩm quyền này phải được quy định trong các văn bản pháp lý liên quan đến cuộc kiểm toán. Đạo đức nghề nghiệp: Theo VSQC1 - chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 01 "Kiểm soát chất lượng doanh nghiệp thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ liên quan khác" Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán quy định các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp, bao gồm: (a) Tính chính trực; (b) Tính khách quan; (c) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng; (d) Tính bảo mật; (e) Tư cách nghề nghiệp Các thông tin của một đơn vị: Là những thông tin có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy đã có sẵn nguồn bằng chứng cho kiểm toán và có căn cứ làm cơ sở cho việc đánh giá thông tin.
Thông tin được kiểm toán có thể là những thông tin được lượng hóa hoặc những thông tin có thể so sánh, đối chiếu hay kiểm tra lại được; có thể là thông tin tài chính hoặc thông tin phi tài chính. Các chuẩn mực đã được thiết lập: Các chuẩn mực là cơ sở, là thước đo để đánh giá thông tin trong quá trình kiểm toán. Có 2 loại chuẩn mực: Các văn bản, các quy định có tính pháp lý và pháp quy của mọi lĩnh vực. Các quy định có tính chất nội bộ của từng đơn vị, loại này có tính chủ quan cao nên kiểm toán viên cần phải thẩm định lại tính hợp pháp của các quy định nội bộ này.
Đơn vị được kiểm toán: Đó chính là đối tượng được kiểm toán, có thể là một tổ chức pháp nhân (một doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc một đơn vị hành chính sự nghiệp…) hoặc không có tư cách pháp nhân (một phân xưởng, tổ đội sản xuất…). 7 Khái niệm chung về kiểm toán được tóm tắt bằng sơ đồ sau: Các thông tin được kiểm toán Các kiểm toán Thu thập và Báo cáo viên độc lập, đánh giá các kết quả có năng lực bằng chứng Các chuẩn mực đã được xây dựng 1. Chức năng của kiểm toán Kiểm toán có 2 chức năng cơ bản như sau: Thứ nhất, chức năng kiểm tra và xác nhận hay còn gọi là chức năng xác minh. Chức năng này đã tồn tại và gắn liền trong suốt quá trình lịch sử của kiểm toán.
Ban đầu, khi kiểm toán mới ra đời chức năng này được thực hiện dưới dạng chứng thực BCTC, sau này chức năng này được thể hiện cao hơn dưới dạng báo cáo kiểm toán. Thứ hai, ngoài chức năng xác minh thì kiểm toán còn có chức năng tư vấn. Chức năng này ra đời sau chức năng kiểm tra, xác nhận nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà quản lý. Thời kỳ đầu, chức năng này được biểu hiện dưới dạng thư quản lý.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, chức năng này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kiểm toán. Mục tiêu kiểm toán Tùy thuộc vào mỗi cuộc kiểm toán có thể có các mục tiêu kiểm toán khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung các cuộc kiểm toán bao gồm các mục tiêu sau: Đảm bảo cho người sử dụng thông tin về mức độ trung thực, hợp lý của thông tin tài chính; tính hiệu quả, hiệu suất của hoạt động; tính tuân thủ các văn bản pháp lý có liên quan. Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót giúp đơn vị phòng 8 ngừa sai phạm và thiệt hại có thể xảy ra trong hoạt động. Phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong việc sử dụng ngân sách, tiền và tài sản khác của Nhà nước.
Phân loại kiểm toán 1. Phân loại theo mục đích của kiểm toán Căn cứ vào tiêu thức phân loại này, kiểm toán gồm: Kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán BCTC. Kiểm toán hoạt động Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm xem xét và đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động được kiểm toán của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị. Tính kinh tế: Biểu hiện của tính kinh tế là sự tiết kiệm các nguồn lực (hay còn được hiểu là nguyên tắc tối thiểu) nghĩa là có thể đạt được mục tiêu đã xác định với lượng nguồn lực bỏ ra là thấp nhất.
Tính hiệu lực: Biểu hiện của tính hiệu lực là khả năng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đã đặt ra của đơn vị. Tính hiệu quả (hay còn gọi là nguyên tắc tối đa): Biểu hiện của tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với một đơn vị nguồn lực có sẵn. Có rất nhiều hoạt động của nhiều lĩnh vực khác nhau cần phải kiểm tra và theo dõi về tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả nên đối tượng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, phong phú. Đối tượng của kiểm toán hoạt động có thể là việc đánh giá một phương án kinh doanh, một dự án, một quy trình công nghệ, một công trình xây dựng cơ bản, một loại tài sản, thiết bị mới đưa vào hoạt động… Mặt khác, việc xác định các tiêu chuẩn, chuẩn mực để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó, việc lượng hóa các mặt trên thành các tiêu chuẩn đánh giá là việc mang nặng tính chủ quan.
Do vậy, việc đánh giá trong kiểm toán hoạt động cũng mang tính chủ quan cao. Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt khỏi phạm vi 9 công tác kế toán, tài chính, đòi hỏi kiểm toán viên phải am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, khoa học, kỹ thuật… Kiểm toán hoạt động sử dụng nhiều biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ và phân tích, đánh giá khác nhau. Báo cáo kết quả kiểm toán thường là bản giải trình, nhận xét, đánh giá, kết luận và ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động. Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán tuân thủ là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và đánh giá đơn vị được kiểm toán trong việc tuân thủ pháp luật và các quy định mà đơn vị phải thực hiện.