CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG 1.1 KHÁI NIỆM VỀ BÊ TÔNG CỐT THÉP (BTCT) * ĐN: Bê tông cốt thép (BTCT) là một loại vật liệu xây dựng phức hợp (composite) do bê tông (BT) và cốt thép (CT) cùng cộng tác chịu lực với nhau. - BT: Là đá nhân tạo, chế tạo từ xi măng, cát , đá dăm (sỏi) và nước. BT là vật liệu giòn có khả năng chịu nén cao nhưng chịu kéo rất kém. - CT: Có khả năng chịu kéo và chịu nén rất cao.
Xét dầm BT chịu lực như hình 1.1: - Trường hợp a (không đặt cốt thép) khi tăng lực tác dụng ứng suất trong bê tông tăng lên, khi ứng suất kéo (σ t ) trong bê tông vùng kéo đạt giá trị ứng suất kéo cho phép ([σ t ]) thì dầm mất khả năng chịu tải, bắt đầu xuất hiện vết nứt. Trong khi đó bê tông vùng nén ta thấy σ b1 << [σ b ] , thông thường khả năng chịu nén của BT lớn hơn từ 10-20 lần khả năng chịu kéo của nó, như vậy khả năng chịu nén của bê tông đã bị lãng phí. - Trường hợp b, nếu đặt một lượng cốt thép thích hợp vào vùng bê tông chịu kéo thì ứng suất kéo sẽ được cốt thép tiếp nhận. Dầm bị mất khả năng chịu tải khi ứng suất kéo trong cốt thép đạt giá trị ứng suất kéo cho phép (σ s = [σ s ]) hoặc ứng suất nén trong bê tông đạt ứng suất nén cho phép σ b = [σ b ] do đó khả năng chịu lực của dầm tăng lên rất nhiều.
Nếu cùng kích thước tiết diện, dầm BTCT có khả năng chịu tải lớn hơn dầm BT (không có cốt thép) hàng chục lần. Mặt khác thép chịu kéo và nén đều tốt nên có thể đặt thép vào cả vùng chịu nén để tăng khả năng chịu lực của vùng nén, giảm kích thước tiết diện hoặc để chịu các lực kéo xuất hiện ngẫu nhiên. Vậy thực chất bê tông cốt thép là một vật liệu xây dựng hỗn hợp mà trong đó bê tông và cốt thép đã liên kết hợp lý với nhau để cùng làm việc trong một kết cấu. Sở dĩ bê tông và cốt thép có thể cùng làm việc được là do: - Lực dính bám giữa BT và cốt thép: Bê tông khi ninh kết thì dính chặt với cốt thép nên ứng lực có thể truyền từ BT sang cốt thép và ngược lại.
Lực dính có ý nghĩa hàng đầu, nhờ đó có thể khai thác hết khả năng chịu lực của cốt thép, hạn chế bề rộng khe nứt. - Phản ứng hóa học giữa bê tông và cốt thép: Nhìn chung giữa hai loại vật liệu này không xảy ra các phản ứng có hại, tuy nhiên cần phải cẩn thận khi sử dụng các loại phụ gia (hóa dẻo, đông cứng nhanh…) vì các phụ gia này có thể gây ra phản ứng hóa học bất lợi. - Bê tông và thép có hệ số giãn nở nhiệt gần bằng nhau: Hệ số giãn nở nhiệt của CT α ct = 10 −5 , hệ số giãn nở nhiệt của BT là α b = (1 ÷ 1,5) *10 −5 , hai hệ số này gần bằng ngau nên khi nhiệt độ thay đổi trong phạm vi thông thường dưới 1000C thì nội ứng suất xảy ra trong vật liệu không đáng kể, không làm phá hoại lực dính giữa BT và CT. - Bê tông bảo vệ cho cốt thép: Bê tông có độ đặc chắc, bao bọc bảo vệ cốt thép không bị han rỉ và ngăn ngừa tác dụng có hại của môi trường đối với thép (ăn mòn).
Do vậy cần phải đầm chặt để đạt độ chặt sít và phải chọn bề dày lớp bảo vệ hợp lý tùy theo loại cấu kiện và điều kiện làm việc của nó.2 PHÂN LOẠI * Theo biện pháp thi công: 1.1 BTCT toàn khối: Khi thi công người ta tiến hành ghép ván khuôn, đặt cốt thép và đổ BT ngay tại vị trí thiết kế của kết cấu. * Ưu điểm: - Các cấu kiện liên kết toàn khối nên kết cấu có độ cứng lớn, khả năng chịu tải trọng động tốt. - Có thể chế tạo các cấu kiện theo hình dáng tùy ý. * Nhược điểm: - Tốn vật liệu làm ván khuôn, đà giáo.
- Thi công chịu ảnh hưởng thời tiết. Trong thực tế biện pháp thi công này là phổ biến, người ta đã có nhiều biện pháp hiệu quả để khắc phục các nhược điểm trên. Ví dụ như sử dụng ván khuôn vạn năng bằng kim loại, ván khuôn trượt, dùng phụ gia đông cứng nhanh, dùng BT thương phẩm .2 BTCT lắp ghép: Theo phương pháp này người ta phân kết cấu thành các cấu kiện riêng biệt để có thể chế tạo sẵn ở nhà máy hay sân bãi, rồi đem lắp ghép lại thành kết cấu tại vị trí thiết kế. Phương pháp này khắc phục được phần nào nhược điểm của BT toàn khối.
* Ưu điểm: - Có điều kiện Công nghiệp hóa trong thi công xây dựng. - Tiết kiệm vật liệu làm ván khuôn. - Rút ngắn thời gian thi công, đảm bảo chất lượng. * Nhược điểm: - Cần có các phương tiện vận chuyển, cẩu lắp.
- Xử lý các mối nối phức tạp. - Độ cứng của kết cấu không lớn. BTCT lắp ghép có hiệu quả về sử dụng nhân lực, phương tiện thi công và nguyên vật liệu khi làm tốt công tác tiêu chuẩn hóa và định hình hóa.3 BTCT nửa lắp ghép: Theo PP nửa lắp ghép, người ta tiến hành lắp ghép các cấu kiện được chế tạo sẵn chưa hoàn chỉnh, sau đó đặt thêm cốt thép, ghép ván khuôn và đổ BT tại chổ để hoàn chỉnh kết cấu. * Ưu điểm: - Độ cứng của kết cấu lớn.
- Giảm khối lượng ván khuôn, có thể loại bỏ cột chống. * Nhược điểm: - Cần giải quyết tốt liên kết gữa BT cũ và mới. - Tổ chức thi công phức tạp. * Theo trạng thái ứng suất: 1.4 BTCT thường: Khi chế tạo cấu kiện, cốt thép ở trạng thái không có ứng suất.
Ngoài các nội ứng suất do co ngót và nhiệt độ, trong BT và cốt thép chỉ xuất hiện ứng suất khi có tải trọng tác dụng (kể cả tải trọng bản thân).5 BTCT ứng lực trước: Khi chế tạo cấu kiện, cốt thép ban đầu được kéo căng, liên kết chặt với BT, khi buông ra cốt thép co lại gây nén trong BT. Nhờ có ứng suất nén trước trong BT, người ta có thể không cho xuất hiện vết nứt hoặc hạn chế bề rộng khe nứt (hình 1.3 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA BTCT. * Ưu điểm: - Rẻ tiền hơn so với thép khi kết cấu có nhịp vừa và nhỏ, cùng chịu tải như nhau: Sử dụng vật liệu địa phương (cát, sỏi, đá.) tiết kiệm thép. - Chịu lực tốt hơn kết cấu gỗ và gạch đá: Kết cấu BTCT chịu được tất cả các loại tải trọng tĩnh, động và động đất.
- Chịu lửa tốt hơn gỗ và thép: Bê tông bảo vệ cho cốt thép không bị nung nóng sớm. Chỉ cần lớp bê tông dày 1,5÷2 cm đủ để tránh hậu quả tai hại do những đám cháy bình thường gây ra. - Tuổi thọ của công trình cao, chi phí bảo dưỡng ít:. BT có cường độ tăng theo thời gian, chống chịu tác động của môi trường tốt, cốt thép được BT bao bọc bảo vệ không bị gỉ.
- Việc tạo dáng cho kết cấu thực hiện dễ dàng: Vữa BT khi thi công ở dạng nhão có thể đổ vào các khuôn có hình dáng bất kỳ, cốt thép đủ dẻo để uốn theo hình dạng của kết cấu. * Nhược điểm : - Trọng lượng bản thân lớn: gây khó khăn cho việc xây dựng kết cấu có nhịp lớn bằng BTCT thường. ⇒ Khắc phục: Dùng BT nhẹ, BTCT ứng lực trước, kết cấu vỏ mỏng,. - Bê tông cốt thép dễ có khe nứt ở vùng kéo khi chịu lực: Với kết cấu BTCT có khe nứt trong vùng chịu kéo là khó tránh khỏi, thông thường thì bề rộng khe nứt không lớn lắm và ít ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng của kết cấu.
Tuy nhiên trong thực tế có một số kết cấu yêu cầu phải ngăn ngừa hoặc hạn chế khe nứt (kết cấu trong môi trường xâm thực, các đường ống hay bể chứa chất lỏng). ⇒ Khắc phục: Tính toán hạn chế khe nứt, sử dụng BTCT ứng lực trước. - Cách âm và cách nhiệt kém hơn gỗ và gạch đá: ⇒ Khắc phục: Sử dụng kết cấu có lỗ rỗng, kết cấu nhiều lớp, BT xốp. - Thi công phức tạp, khó kiểm tra chất lượng, chịu ảnh hưởng của thời tiết: ⇒ Khắc phục: Bê tông cốt thép lắp ghép.
- Khó gia cố và sửa chữa: (Đóng đinh, đục,. ⇒ Khắc phục: Thiết kế cần phải phù hợp yêu cầu sử dụng hiện tại và dự kiến phát triển mở rộng.4 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN 1850: Lambot (Pháp) chế tạo chiếc tàu bằng lưới sắt ngoài trát vôi thủy,. Quá trình phát triển chia thành 3 giai đoạn: - Giai đoạn phát minh và mò mẫm trong thực tiễn, bố trí cốt thép theo cảm tính. - Giai đoạn nghiên cứu lí luận và sử dụng rộng rãi (sau 1880), nghiên cứu về cường độ của BT và cốt thép, lực dính giữa BT và cốt thép, giải thích sự làm việc chung giữa chúng.
- Giai đoạn phát triển hiện tại: XD các phương pháp tính toán theo ứng suất cho phép dựa trên cơ sở của môn SBVL, tính theo giai đoạn phá hoại có xét đến tính biến dạng dẽo của vật liệu, tính theo trạng thái giới hạn. Nghiên cứu và chế tạo thành công BTCT ứng lực trước Hội nghị lần thứ 7 BTCT ƯLT toàn thế giới (26 nước) Tại New York có 102 đại biểu Xã Hội Chủ Nghĩa, họp hơn 1 tuần. Đã thưởng 3 huân chương Freisine: Mikhilop (Liên Xô), Link (Mĩ), Leônad (Đức),. Bê tông cường độ cao: 1000,1500,2000,2500#.
Tháp vô tuyến Canada bằng BTCT ƯLT cao 545m; Cầu bản dầm Nhật vượt nhịp l=230m; Tấm đáy của nhà máy điện nguyên tử (Đức) 90*60*3m không cần khe lún; Khoa Vật liệu xây dựng trường giao thông Mascova: bê tông 3000#. CHƯƠNG 2 TÍNH CHẤT CƠ LÝ CỦA VẬT LIỆU 2.1 Thành phần, cấu trúc và các loại BT 2.1 Vật liệu, thành phần của BT Bê tông là vật liệu đá nhân tạo được chế tạo từ các vật liệu rời và chất kết dính. Vật liệu rời được gọi là cốt liệu có nhiều cỡ hạt khác nhau. Loại có kích thước lớn thường dùng là sỏi, đá dăm có kích thước 5÷40 mm, thậm chí có thể lớn hơn.
Loại có kích thước bé là cát có kích thước 1÷5 mm. Chất kết dính thông thường là xi măng trộn với nước. Khi trộn các vật liệu trên ta được hỗn hợp vữa bê tông, hỗn hợp này không có khả năng chịu tải. Sau đó hỗn hợp này đông kết lại trở thành một thể đặc chắc, khả năng chịu tải của bê tông tăng dần lên.