TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHẠM NGỌC THẠCH CẦN THƠ KHOA DƯỢC BỘ MÔN HÓA DƯỢC – DƯỢC LÝ- DƯỢC LÂM SÀNG GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT DƯỢC LÝ ĐỐI TƯỢNG : DSCĐ TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ NĂM HỌC 2022-2023 MỤC LỤC BÀI 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DƯỢC LÝ HỌC MỤC TIÊU HỌC TẬP Trình bày được khái niệm về thuốc, quan niệm về cách dùng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người. Kể được nội dung môn học, sự liên quan giữa Hóa dược - Dược lý học với các môn học khác. Xác định phương pháp học tập môn học để có khả năng hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế và góp phần chống lạm dụng thuốc. ĐỊNH NGHĨA MÔN HỌC Hóa dược - Dược lý học là môn học chuyên nghiên cứu về các hợp chất hóa học dùng làm thuốc và tác dụng của thuốc trong cơ thể để áp dụng vào công tác phòng bệnh, chữa bệnh cho người.
KHÁI NIỆM VỀ THUỐC Thuốc là những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng vật, sinh học được bào chế để dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, phục hồi, điều chỉnh chức năng cơ thể, làm giảm cảm giác một bộ phận hay toàn thân, làm ảnh hưởng đến quá trình sinh đẻ, làm thay đổi hình dáng cơ thể. QUAN NIỆM VỀ DÙNG THUỐC Thuốc đóng vai trò quan trọng trong phòng và chữa bệnh. Thuốc không phải là phương tiện duy nhất để giải quyết các bệnh. Thuốc tác dụng với bệnh theo cơ chế rất đa dạng và phức tạp, nhưng thường là nhờ đặc tính của thuốc mà xâm nhập được qua tế bào của các cơ quan đến nơi bị thương tổn để giúp cơ thể “ hàn gắn’ vết thương hoặc phục hồi chức năng hoạt động hoặc kiềm hãm sự phát triển của vi khuẩn, tiêu diệt vi khuẩn hoặc gây miễn dịch ở người.
Ranh giới giữa thuốc với chất độc nói chung rất khó phân định vì chỉ khác nhau về liều lượng. Các loại thuốc không phải là vô hại nên chỉ dùng thuốc khi bị bệnh và phải sử dụng hợp lý và an toàn. Khi cần dùng thuốc để chữa bệnh phải lựa chọn kỹ những loại thuốc đặc hiệu với bệnh, ít gây độc hại cho cơ thể, phải sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế. Riêng các thuốc nằm trong danh mục thuốc gây nghiện thuốc hướng tâm thần, thuốc có độc tính cao hoặc tác dụng dược lý phức tạpthì ngoài việc sử dụng đúng liều lượng còn phải chấp hành đúng luật ngày dùng thuốc và phải quản lý đúng quy chế, có theo dõi cẩn thận nhằm sửb lý kịp thời các tai bién có thể xảy ra với bệnh nhân.
NỘI DUNG MÔN HỌC Nội dung môn học gồm 2 phần : Hóa dược học và dược lý học. - Phần Hóa dược học nghiên cứu về công thức hóa học, tính chất lý học, hóa học, mối liên quan giữa cấu trúc hóa học và tác dụng dược lý của các hợp chất dùng làm thuốc - Phần Dược lý học nghiên cứu về tác dụng của thuốc trong cơ thể để áp dụng trong công tác phòng bệnh , chữa bệnh. SỰ LIÊN QUAN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC Liên quan y học: - Bệnh lý học : Nghiên cứu yêu cầu của thuốc đối với cơ thể bệnh. - Giải phẫu học, sinh lý học : Nghiên cứu vị trí, tác dụng của thuốc trong cơ thể.
- Sinh hóa học : Nghiên cứu sự biến hóa của thuốc trong cơ thể. - Điều trị học : Nghiên cứu kết quả của thuốc đối với cơ thể bệnh. - Đông y : Nghiên cứu kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc đông dược với xu hướng Đông Tây Y kết hợp Liên quan Dược học: - Hóa học : Nghiên cứu cấu trúc, tính chất lý, hóa học của các hợp chất dùng làm thuốc. - Dược liệu : Nghiên cứu các nguyênliệu làm thuốc từ thực vật , động vật.
- Độc chất học : Nghiên cứu độc tính và cách giải độc - Dược lâm sàng : Nghiên cứu sử dụng thuốc tối ưu dựa vào những kiến thức về Dược và Y sinh học. - Bào chế : Nghiên cứu kĩ thuật điều chế và sinh dược học các dạng thuốc. - Quản lý dược : Giúp cho việc sử dụng thuốc đạt tới mục tiêu Hợp lý - An Toàn –Hiệu Quả - Bảo quản : Giúp cho thuốc bảo đảm được nguyên vẹn cả hình thức và chất lượng từ khâu Sản xuất –Lưu thông –Phân phối đến tay người sử dụng. PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MÔN HỌC Muốn học tập môn Hóa dược - Dược lý học đạt kết quả tốt phải căn cứ vào mục tiêu học tập từng bài để có kiến thức chung về thuốc : + Tên thuốc + Công thức hóa học + Tính chất lý, hóa học + Tác dụng, tác dụng phụ của thuốc + Dược động học + Chỉ định, chống chỉ định + Cách dùng, liều lượng + Độc tính, cách giải độc (nếu có) + Bảo quản Để có khả năng hướng dẫn sử dụng thuốc Hợp lý, An toàn trước hết phải nhận thức được từng loại thuốc và các thuốc có tác dụng tương tự để thay thế khi cần thiết.
Trong quá trình học tập và sau khi ra trường học sinh cần phải biết vận dụng kiến thức về Y học và dược học cũng như phải đọc tài liệu tham khảo như - Dược Điển Việt Nam. - Danh Mục Thuốc Thiết Yếu. - Cách Sử Dụng Thuốc Và Biệt Dược - Thuốc Và Cách sử Dụng. BÀI 2 DƯỢC ĐỘNG HỌC MỤC TIÊU HỌC TẬP 1.
Trình bày được quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa thuốc trong cơ thể người. Kể được các đường thải trừ thuốc ra khỏi cơ thể và ý nghĩa của nó trong sử dụng thuốc. SỰ HẤP THU THUỐC Sự hấp thu thuốc là quá trình thuốc thấm vào nội môi trường. Để phát sinh tác động thuốc thường phải đi qua một hay nhiều màng tế bào.
Vì vậy sự hấp thu thuốc phụ thuộc bản chất của màng tế bào. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG HẤP THU THUỐC Tính hòa tan của thuốc Nồng độ thuốc tại nơi hấp thu pH nơi hấp thu Tuần hoàn nơi hấp thu Bề mặt nơi hấp thu. CÁC ĐƯỜNG HẤP THU THUỐC 6. Đường hấp thu qua da 2.a) Cấu tạo da Biểu bì (lớp sừng) Bì Hạ bì.b) Nguyên tắc vận chuyển thuốc qua da Lớp sừng là hàng rào cản trở thấm qua da của hầu hết các loại thuốc.
Hấp thu thuốc qua da phụ thuộc hệ số phân chia D/N của thuốc. Đường thấm qua da có thể gây được tác dụng từ nông đến sâu và cả tác động toàn thân, cụ thể: Tác dụng dùng ngoài da: thuốc mỡ, cao dán. Tác dụng nông, tại chỗ: thuốc sát khuẩn, chống nấm. Tác động tới lớp bě: tinh dầu, salicylat, hormon.
Tác động toàn thân: bôi nitroglycerin trên da vùng tim, dán băng dán scopolamin lên da vùng thái dương, băng dán estraderm chứa estradiol.c) Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thu thuốc qua da Hydrat hóa lớp sừng Loại tá dược Độ dày của lớp sừng Chà xát, xoa bóp da Tuổi tác 6.a) Hấp thu qua niêm mạc miệng Gồm có niêm mạc lưỡi, niêm mạc sàn miệng, niêm mạc mặt trong hai má. Từ đó thuốc đổ vào tĩnh mạch cổ phía trong rồi đổ vào hệ đại tuần hoàn mà không bị gan biến đổi. Do đó các thuốc dễ bị gan hủy hoại sẽ có tác dụng tốt hơn nếu đặt dưới lưỡi như hormon sinh dục, corticosteroid, trinitrin, isoprenalin.b) Hấp thu qua niêm mạc dạ dày Hấp thu qua niêm mạc dạ dày rất hạn chế do hệ thống mao mạch ít phát triển và môi trường pH rất acid. Các acid yếu như salicylat, barbiturat ít phân ly ở dịch vị nên hấp thu được qua dạ dày.
Các base yếu như pyramidon, quinin, ephedrin dễ phân ly nên khó hấp thu.c) Hấp thu qua niêm mạc ruột non Dễ dàng nhất so với các phần khác của hệ tiêu hóa vì: Hệ thống mao mạch rất phát triển Diện tích hấp thu rất rộng Thời gian lưu ở ruột non lâu Nhu động ruột giúp phân tán thuốc.d) Hấp thu qua niêm mạc ruột già (đường trực tràng) Năng lực hấp thu ở ruột già kém hơn ở ruột non rất nhiều. Có một số ưu điểm: Tránh được một phần tác động của gan Liều dùng nhỏ hơn liều cho uống Dùng tiện lợi đối thuốc có mùi khó chịu, bệnh nhân nôn mửa, hôn mê Có tác dụng tại chỗ như trĩ, viêm trực tràng. Ngày nay thường được dùng trong các trường hợp tổng quát (thuốc ngủ, thuốc hạ nhiệt). Đường hô hấp Các chất được hấp thu qua đường này ở dạng hơi hay dễ bay hơi, chất lỏng dạng khí dung.
Sau khi tiếp xúc với niêm mạc bộ máy hô hấp, thuốc đi vào tuần hoàn không bị gan phân hủy. Liều dùng vào khoảng liều tiêm dưới da. Đường tiêm chích 2.a) Đường tiêm dưới da (Sous cutané = SC) Thuốc được hấp thu chậm và đau hơn tiêm bắp vì: Hệ thống mao mạch dưới da ít hơn cơ Ngọn dây thần kinh cảm giác dưới da nhiều hơn cơ.b) Đường tiêm bắp (Intramusculaire = IM) Tương tự đường tiêm dưới da nhưng nhanh hơn và ít đau hơn.c) Đường tiêm tĩnh mạch (Intraveineux = IV) Thuốc thấm nhập nhanh chóng và toàn vẹn, dùng khi khẩn cấp Liều dùng chính xác và kiểm soát được Tránh dùng các chất gây kích ứng, không dùng các chất dầu hay các chất không tan, tránh dùng các chất gây tiêu huyết hay có hại cho cơ tim. SỰ PHÂN PHỐI THUỐC 7.
GẮN VỚI PROTEIN HUYẾT TƯƠNG Khi vào máu thuốc thường gắn với protein huyết tương. Các protein thường gắn thuốc gồm có albumin, globulin, 1-glycoprotein acid, lipoprotein. Tính chất của sự gắn thuốc - protein huyết tương: o Không có tính chuyên biệt o Phức hợp thuốc - protein không sinh tác động dược lực (dạng tự do mới có hoạt tính), không bị chuyển hoá và đào thải o Khả năng gắn nhiều hay ít tùy từng loại thuốc 7. TÍCH LŨY TẠI CÁC MÔ Tùy loại thuốc có thể tích lũy ở các mô khác nhau: - Nơi đó sinh tác động dược lực như thuốc mê, thuốc ngủ gắn vào tế bào thần kinh.
- Nơi đó không sinh tác động dược lực như digitalin gắn vào hồng cầu. Ý nghĩa của sự tích lũy thuốc tại mô và dịch thể: - Thuốc tích lũy nhiều chỉ cần sử dụng một liều thuốc trong ngày. - Thuốc tích lũy nhiều và phải sử dụng lâu dài nhớ giảm liều. - Các dịch thể chứa ít protein như bạch huyết, dịch não tủy liều sử dụng thấp - Nếu hai thuốc có ái lực trên cùng một nơi của protein huyết tương sẽ có hiện tượng cạnh tranh, chất có ái lực mạnh đẩy chất có ái lực yếu ra khỏi những vị trí đó và có thể gây độc tính.
Ví dụ phenylbutazon đẩy tolbutamid ra khỏi protein huyết tương gây chết do hạ đường huyết. - Ở trẻ sơ sinh khả năng gắn thuốc vào protein rất kém.