Giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng phần 1 cđ gtvt trung ương i

Giáo trình dung sai vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng phần 1. Cung cấp kiến thức cơ bản về dung sai, lắp ghép và chuỗi kích thước.

Chuyên ngành

Dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2017

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền

Giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền trình độ cao đẳng là tài liệu cốt lõi, đặt nền móng kiến thức cơ sở về cơ khí chính xác cho người học. Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển, các chi tiết máy, đặc biệt trong lĩnh vực máy thi công, đòi hỏi độ chính xác ngày càng cao. Môn học Dung sai lắp ghép và Kỹ thuật đo lường ra đời để đáp ứng yêu cầu này, trang bị cho sinh viên những khái niệm căn bản nhất, giúp hiểu sâu sắc bản chất của các mối lắp ghép và thành thạo việc sử dụng các dụng cụ đo lường thông dụng. Nội dung của giáo trình được xây dựng dựa trên sự kế thừa từ nhiều tài liệu uy tín, kết hợp với yêu cầu thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Kiến thức được sắp xếp một cách logic, cô đọng, từ các khái niệm cơ bản về hệ thống dung sai đến các ứng dụng trong mối ghép thông dụng. Việc nắm vững giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền không chỉ giúp người học hoàn thành tốt các môn chuyên ngành mà còn là kỹ năng thiết yếu khi bước vào thực tế sản xuất, sửa chữa, đảm bảo các thiết bị vận hành ổn định và hiệu quả. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định, quy phạm về dung sai và kỹ thuật đo, rèn luyện tác phong làm việc cẩn thận, nghiêm túc cho người thợ kỹ thuật tương lai.

1.1. Tầm quan trọng của tính đổi lẫn chức năng trong cơ khí

Trong ngành chế tạo và sửa chữa máy móc, tính đổi lẫn chức năng là một nguyên tắc cơ bản và tối quan trọng. Bản chất của nó là khả năng các chi tiết cùng loại có thể thay thế cho nhau trong một mối lắp ghép mà không cần qua lựa chọn hay sửa nguội, nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật đề ra. Ví dụ thực tiễn như việc thay một chiếc bu lông, một ổ bi hay piston mới mà không cần gia công lại. Để đạt được điều này, kích thước của các chi tiết phải được kiểm soát trong một phạm vi cho phép, và phạm vi đó chính là dung sai. Dung sai quyết định tính lắp lẫn, có thể là lắp lẫn hoàn toàn (độ chính xác cao, giá thành cao) hoặc lắp lẫn không hoàn toàn. Tính đổi lẫn giúp đơn giản hóa quá trình lắp ráp, giảm thời gian sửa chữa, tạo điều kiện cho chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác giữa các nhà máy, từ đó nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm.

1.2. Vai trò của dung sai và kỹ thuật đo lường với người thợ

Đối với người thợ vận hành và sửa chữa máy thi công, dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường là hai mảng kiến thức không thể tách rời. Dung sai cung cấp giới hạn cho phép về sai số kích thước, đảm bảo các bộ phận máy khi lắp ráp hoạt động đúng chức năng, dù là lắp lỏng để chuyển động tương đối hay lắp chặt để truyền lực. Hiểu về dung sai giúp người thợ đọc hiểu bản vẽ kỹ thuật, xác định yêu cầu gia công và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, kỹ thuật đo lường là công cụ để hiện thực hóa các tiêu chuẩn dung sai. Việc sử dụng thành thạo các dụng cụ đo như thước cặp, panme, đồng hồ so cho phép người thợ kiểm tra chính xác kích thước, sai lệch hình dạng, độ nhám bề mặt, đảm bảo chi tiết gia công nằm trong phạm vi dung sai cho phép. Đây là kỹ năng nền tảng quyết định đến chất lượng sửa chữa và tuổi thọ của thiết bị.

II. Hiểu đúng về dung sai lắp ghép trong vận hành máy thi công

Việc hiểu sai hoặc không nắm vững các khái niệm cơ bản về dung sai là một thách thức lớn, dẫn đến những sai sót nghiêm trọng trong quá trình gia công và sửa chữa máy thi công. Một trong những vấn đề cốt lõi là sự nhầm lẫn giữa các thuật ngữ như kích thước danh nghĩa, kích thước thực, và kích thước giới hạn. Kích thước danh nghĩa (d, D) là kích thước thiết kế, trong khi kích thước thực là kết quả đo đạc sau gia công. Để đảm bảo tính đổi lẫn chức năng, kích thước thực phải nằm giữa hai giá trị giới hạn: kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất. Khoảng chênh lệch giữa hai giới hạn này được gọi là dung sai (IT). Dung sai càng nhỏ, độ chính xác yêu cầu càng cao. Bên cạnh đó, việc phân biệt các kiểu lắp ghép cũng là yếu tố then chốt. Mỗi kiểu lắp ghép phục vụ một mục đích khác nhau và việc lựa chọn sai có thể khiến máy móc hoạt động sai, gây mài mòn nhanh hoặc thậm chí phá hỏng chi tiết. Việc nắm rõ các khái niệm này là yêu cầu bắt buộc trong giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền.

2.1. Phân biệt các khái niệm Kích thước và sai lệch giới hạn

Để áp dụng dung sai một cách chính xác, cần phân biệt rõ các khái niệm sau. Kích thước danh nghĩa là kích thước cơ sở được ghi trên bản vẽ. Kích thước giới hạn là hai giá trị biên (lớn nhất và nhỏ nhất) mà kích thước thực của chi tiết phải nằm trong đó để được coi là đạt yêu cầu. Sai lệch giới hạn là hiệu số đại số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa, bao gồm sai lệch giới hạn trên (ES, es) và sai lệch giới hạn dưới (EI, ei). Các giá trị này có thể là dương, âm hoặc bằng không, quyết định vị trí của miền dung sai so với đường kích thước danh nghĩa. Trị số dung sai được tính bằng hiệu giữa kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất, hoặc hiệu đại số giữa sai lệch giới hạn trên và dưới. Một chi tiết chỉ đạt yêu cầu khi kích thước thực của nó thỏa mãn điều kiện: d_min ≤ d_thực ≤ d_max.

2.2. Các loại lắp ghép cơ bản Lắp lỏng chặt và trung gian

Đặc tính của một mối ghép được xác định bởi hiệu số kích thước giữa chi tiết bao (lỗ) và chi tiết bị bao (trục). Có ba nhóm lắp ghép chính:

  • Lắp lỏng (lắp có độ hở): Kích thước lỗ luôn lớn hơn kích thước trục, tạo ra khe hở (S) cho phép các chi tiết chuyển động tương đối. Đây là kiểu lắp phổ biến cho các cơ cấu như trục quay trong bạc lót.
  • Lắp chặt (lắp có độ dôi): Kích thước lỗ luôn nhỏ hơn kích thước trục. Khi lắp ghép sẽ tạo ra một lực ép, gọi là độ dôi (N), giúp cố định hai chi tiết với nhau để truyền lực hoặc mô-men xoắn mà không cần then, chốt.
  • Lắp trung gian: Miền dung sai của lỗ và trục giao nhau, tùy thuộc vào kích thước thực của từng chi tiết mà mối ghép có thể có độ hở hoặc độ dôi. Kiểu lắp này dùng khi cần định tâm chính xác nhưng vẫn có thể tháo lắp được.

III. Hướng dẫn hệ thống dung sai lắp ghép trong máy thi công nền

Để tiêu chuẩn hóa và đơn giản hóa việc thiết kế, chế tạo, TCVN (Tiêu chuẩn Việt Nam) đã ban hành hệ thống dung sai lắp ghép dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống này cung cấp một tập hợp các quy tắc về dung sai và sai lệch, giúp tạo ra các mối ghép có đặc tính mong muốn một cách nhất quán. Trong giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền, hai hệ thống lắp ghép chính được giới thiệu là hệ thống lỗ cơ sởhệ thống trục cơ sở. Việc lựa chọn hệ thống nào phụ thuộc vào yếu tố kinh tế và công nghệ. Về mặt kinh tế, hệ thống lỗ cơ sở thường được ưu tiên vì việc gia công lỗ chính xác yêu cầu các dụng cụ cắt chuyên dụng và đắt tiền (dao doa, dao chuốt). Bằng cách giữ kích thước lỗ không đổi và thay đổi kích thước trục, số lượng dụng cụ cần thiết sẽ giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt về kết cấu hoặc công nghệ, người ta buộc phải sử dụng hệ thống trục cơ sở. Việc nắm vững cách lựa chọn và sử dụng hai hệ thống này là kỹ năng quan trọng để tối ưu hóa quá trình sản xuất và sửa chữa.

3.1. Tìm hiểu về hệ thống lỗ cơ sở và hệ thống trục cơ sở

Hai hệ thống lắp ghép tiêu chuẩn được định nghĩa như sau:

  • Hệ thống lỗ cơ sở (Hệ lỗ): Là tập hợp các lắp ghép mà các độ hở và độ dôi khác nhau có được bằng cách ghép các trục có kích thước khác nhau với một lỗ cơ sở. Lỗ cơ sở được ký hiệu là 'H', có sai lệch giới hạn dưới bằng không (EI = 0). Điều này có nghĩa là kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ luôn bằng kích thước danh nghĩa.
  • Hệ thống trục cơ sở (Hệ trục): Là tập hợp các lắp ghép mà các độ hở và độ dôi khác nhau có được bằng cách ghép các lỗ có kích thước khác nhau với một trục cơ sở. Trục cơ sở được ký hiệu là 'h', có sai lệch giới hạn trên bằng không (es = 0). Kích thước giới hạn lớn nhất của trục luôn bằng kích thước danh nghĩa. Lựa chọn hệ thống lỗ cơ sở thường mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

3.2. Phương pháp lựa chọn và ký hiệu lắp ghép trên bản vẽ

Việc lựa chọn kiểu lắp tiêu chuẩn phụ thuộc vào chức năng của mối ghép. Đầu tiên, cần xác định yêu cầu về độ hở hoặc độ dôi giới hạn, sau đó chọn kiểu lắp phù hợp từ các bảng tiêu chuẩn. Ký hiệu miền dung sai trên bản vẽ là sự kết hợp giữa kích thước danh nghĩa, sai lệch cơ bản và cấp chính xác. Ví dụ, ø40H7: 'ø40' là kích thước danh nghĩa, 'H' là ký hiệu sai lệch cơ bản cho lỗ cơ sở, và '7' là cấp chính xác (cấp dung sai tiêu chuẩn). Tương tự, ø40f7 là ký hiệu cho trục. Khi ghi trên bản vẽ lắp, ký hiệu sẽ được viết dưới dạng phân số, ví dụ ø60(H7/e8), trong đó H7 là miền dung sai của lỗ và e8 là của trục. Cách ghi này cung cấp đầy đủ thông tin để gia công và kiểm tra chi tiết máy.

IV. Phương pháp kiểm soát dung sai hình dạng trong máy thi công

Bên cạnh dung sai về kích thước, dung sai hình dạng và vị trí cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu suất làm việc của máy thi công. Trong thực tế, do nhiều nguyên nhân như độ chính xác của máy công cụ, độ mòn của dao, biến dạng do lực kẹp hay nhiệt độ, bề mặt của chi tiết sau gia công không bao giờ đạt được hình dạng hình học lý tưởng (phẳng tuyệt đối, tròn tuyệt đối). Các sai lệch này bao gồm độ không phẳng, không thẳng, không tròn, độ côn, độ ô van... Nếu không được kiểm soát, chúng có thể gây ra rung động, mài mòn nhanh, làm giảm độ bền của mối ghép. Giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền cung cấp các kiến thức về cách xác định, ký hiệu và kiểm soát các sai lệch này. Tiêu chuẩn Việt Nam quy định 16 cấp chính xác cho dung sai hình dạng và vị trí, giúp người thiết kế và chế tạo có một ngôn ngữ chung để đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối cùng, đặc biệt là với các bộ phận chịu tải và chuyển động phức tạp trong máy thi công.

4.1. Nguyên nhân gây sai số hình học trong quá trình gia công

Sai số hình học phát sinh do nhiều yếu tố phức tạp. Các nguyên nhân chính bao gồm:

  • Độ chính xác của máy và đồ gá: Máy bị mòn, trục chính bị đảo, sống trượt không song song đều gây ra sai lệch (độ côn, không tròn).
  • Độ cứng vững của hệ thống công nghệ: Nếu hệ thống (máy - đồ gá - dao - chi tiết) không đủ cứng vững, nó sẽ bị biến dạng dưới tác dụng của lực cắt, gây sai số.
  • Biến dạng do kẹp chặt và nhiệt: Lực kẹp quá lớn làm chi tiết mỏng bị biến dạng. Nhiệt sinh ra trong quá trình cắt cũng làm thay đổi kích thước và hình dạng.
  • Rung động: Gây ảnh hưởng lớn đến độ nhám bề mặt và sai số hình dạng. Hiểu rõ các nguyên nhân này giúp người thợ đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế sai số hiệu quả.

4.2. Cách đọc ký hiệu sai lệch hình dạng và vị trí trên bản vẽ

TCVN 10-85 quy định các ký hiệu tiêu chuẩn để chỉ rõ yêu cầu về dung sai hình dạng và vị trí trên bản vẽ kỹ thuật. Các ký hiệu này được đặt trong một khung chữ nhật, nối với bề mặt cần kiểm soát bằng một đường dóng có mũi tên. Khung được chia thành 2 hoặc 3 phần: phần đầu tiên ghi dấu hiệu tượng trưng cho loại sai lệch (ví dụ: độ phẳng -, độ tròn , độ song song //), phần thứ hai ghi trị số dung sai cho phép (tính bằng mm), và phần thứ ba (nếu có) ghi bề mặt chuẩn (ký hiệu bằng chữ cái). Ví dụ, ký hiệu cho biết 'Dung sai độ song song của bề mặt B so với bề mặt A là 0,1 mm' sẽ giúp người gia công và kiểm tra hiểu chính xác yêu cầu kỹ thuật cần đạt được.

V. Bí quyết đánh giá nhám bề mặt trong vận hành máy thi công

Chất lượng bề mặt chi tiết, hay còn gọi là độ nhám bề mặt, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất và tuổi thọ của máy móc. Bề mặt sau gia công không bao giờ hoàn toàn nhẵn bóng mà luôn có những nhấp nhô li ti, là kết quả của vết dao cắt, biến dạng dẻo của vật liệu, và các rung động trong quá trình gia công. Những nhấp nhô này, nếu quá lớn, sẽ gây ra nhiều tác hại. Trong các mối ghép động, chúng làm tăng ma sát, gây mài mòn nhanh. Trong các mối ghép chặt, các đỉnh nhám sẽ bị san phẳng khi ép, làm giảm độ dôi thực tế và độ bền của mối ghép. Vì vậy, việc kiểm soát nhám bề mặt là một yêu cầu kỹ thuật không thể bỏ qua, được quy định rõ trong giáo trình dung sai nghề vận hành máy thi công nền. Tiêu chuẩn TCVN 2511-95 đưa ra các chỉ tiêu để đánh giá độ nhám, phổ biến nhất là Ra (sai lệch trung bình số học của profin) và Rz (chiều cao nhấp nhô theo 10 điểm). Việc lựa chọn cấp độ nhám phù hợp với chức năng của từng chi tiết giúp tối ưu hóa cả về chất lượng lẫn chi phí sản xuất.

5.1. Ảnh hưởng của độ nhám đến chất lượng và độ bền chi tiết

Nhám bề mặt ảnh hưởng sâu sắc đến các đặc tính làm việc của chi tiết máy. Cụ thể:

  • Độ bền mỏi: Các đáy nhấp nhô là nơi tập trung ứng suất, có thể là điểm khởi đầu của các vết nứt mỏi, làm giảm tuổi thọ của chi tiết.
  • Chống mài mòn: Bề mặt càng nhám, diện tích tiếp xúc thực tế càng nhỏ, áp suất tại các đỉnh nhấp nhô càng lớn, dẫn đến mài mòn nhanh hơn. Bột mài sinh ra lại tiếp tục phá hủy bề mặt.
  • Độ kín của mối ghép: Bề mặt nhám không đảm bảo được độ kín khít, dễ gây rò rỉ chất lỏng hoặc khí.
  • Chống ăn mòn: Các vùng lõm của bề mặt nhám là nơi dễ đọng lại hơi ẩm và các chất ăn mòn, đẩy nhanh quá trình gỉ sét. Do đó, kiểm soát độ nhám là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng tổng thể của thiết bị.

5.2. Các chỉ tiêu và cấp độ nhám bề mặt theo tiêu chuẩn TCVN

TCVN 2511-95 chia nhám bề mặt thành 14 cấp độ, từ cấp 1 (nhám nhất) đến cấp 14 (nhẵn nhất). Việc đánh giá dựa trên hai thông số chính: Ra (sai lệch trung bình số học của profin) và Rz (chiều cao nhấp nhô profin theo 10 điểm), đơn vị tính là micromet (μm). Thông số Ra được sử dụng phổ biến hơn cho các bề mặt có độ nhám trung bình, trong khi Rz cho kết quả chính xác hơn với bề mặt quá nhám hoặc quá mịn. Trên bản vẽ kỹ thuật, độ nhám được ký hiệu bằng một dấu đặc biệt, trên đó ghi cấp độ nhám hoặc giá trị Ra/Rz yêu cầu, phương pháp gia công và hướng của các nhấp nhô. Việc lựa chọn cấp độ nhám phải cân bằng giữa yêu cầu kỹ thuật và chi phí, vì độ nhẵn càng cao thì chi phí gia công càng lớn.

30/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: MH 10— 01 Giới thiệu: Là môn học cơ sở tuy nhiên dung sai đo lường lại là môn học có nhiều kiến thức bồ ích đối với người học, nó mang lại cho người học những kiến thức về các lắp ghép chỉ tiết, về sai lệch kích thước,.phục vụ cho công việc gia công và chế tạo. Mục tiêu: - Trinh bày day đủ kích thước danh nghĩa, kích thước thực, kích thước giới hạn, dung sai chỉ tiết, dung sai lắp ghép - Trinh bay rõ đặc điểm của các kiểu lắp ghép: Lắp lỏng - Lắp chặt - lắp trung gian - Trình bày đầy đủ các quy định về lắp ghép theo hệ thống lỗ và hệ thống trục, hai dãy sai lệch cơ bản của lỗ và trục các lắp ghép tiêu chuẩn - Vẽ đúng sơ đồ phân bố miền dung sai theo hệ thống lỗ và hệ thống trục và xác định được các đặc tính của lắp ghép khi cho một lắp ghép - Xác định được phạm vi phân tán kích thước của trục và lỗ để điều chỉnh dụng cụ cắt và kiểm tra kích thước gia công - Giải thích đúng các dạng sai lệch về hình dạng, sai lệch vị trí bề mặt được ghi trên bản vẽ gia công - Biểu diễn và giải thích đúng các ký hiệu độ nhám trên bản vẽ gia công - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về dung sai và kỹ thuật đo. Nội dung chính: 1.1 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép Mục tiêu: - Trinh bày được tính đồi lẫn chức năng trong cơ khí - Trình bày được các khái niệm về kích thước và dung sai lắp ghép - Ứng dụng vào việc giải các bài tập có liên quan 1.1 Khái niệm về tính đỗi lẫn chức năng trong ngành cơ khí chế tạo a. Bản chất của tính lắp lẫn Máy do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận do nhiều khâu, khớp, chỉ tiết lắp ghép lại với nhau, trong chế tạo cũng như sửa chữa máy, con người mong muốn các chỉ tiết máy cùng loại có khả năng lắp đổi lẫn được cho nhau - nghĩa là khi cần thay thế nhau, không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm mà vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của mối lắp ghép.

Tính chất đó của chỉ tiết gọi là tính lắp lẫn (đổi lẫn chức năng ). Tính lắp lẫn của một loại chi tiết máy là khả năng thay thế cho nhau trong lắp ghép mà không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đã quy định. Tính lắp lẫn có 2 loại đó là lắp lẫn hoàn toàn và lắp lẫn không hoàn toàn. Nếu trong một loạt chỉ tiết cùng loại, mà các chỉ tiết đều có thể lắp lẫn được cho nhau thì loạt chỉ tiết đó đạt được tính lap lẫn hoàn toàn; nếu một số trong các chỉ tiết ấy không lắp lẫn cho nhau được hoặc khi lắp lẫn cho nhau cần phải gia công thêm mới lắp ghép được thì loạt chỉ tiết đó chỉ đạt được tính lắp lẫn không hoàn toàn.

Các chỉ tiết có tính lắp lẫn phải giống nhau về hình dạng về kích thước, hoặc kích thước chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép nào đó, phạm vi cho phép đó gọi là dung sai. Như vậy dung sai là yếu tố quyết định tính lắp lẫn, tuỳ theo giá trị của dung sai mà chỉ tiết đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn hay lắp lẫn không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chỉ tiết phải có độ chính xác cao, do đó giá thành sản phẩm cao. Đối với các chỉ tiết tiêu chuẩn như bu lông - đai ốc, bánh rang, 6 lan., các chỉ tiết dự trữ, thay thế thường được chế tạo có tính lắp lẫn hoàn toàn.

Lắp lẫn không hoàn toàn cho phép các chỉ tiết chế tạo với phạm vi dung sai lớn hơn, thường thực hiện đối với công việc lắp ráp trong nội bộ phân xưởng hoặc nhà máy. Vai trò của tính lắp lẫn Tính lắp lẫn trong chế tạo máy là điều kiện cơ bản và cần thiết của nền sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất hàng loạt, nếu không đảm bảo các nguyên tắc của tính lắp lẫn thì không thể sử dụng bình thường nhiều loại đồ dùng phương tiện trong cuộc sống của chúng ta. Ví dụ : Lắp một bóng đèn điện vào đui đèn; vặn đai ốc vào một bulông bất kỳ có cùng kích cỡ kích thước, lắp ỗ lăn có cùng số hiệu về kích thước vào trục và ổ trục nào đó v.

Trong sản xuất, nhờ tính lắp lẫn của chỉ tiết quá trình lắp ráp được đơn giản thuận tiện. Trong sửa chữa, nếu thay thế một chỉ tiết bị hỏng bằng một chỉ tiết dự trữ cùng loại. Ví dụ: xéc măng, piston .thì máy có thể làm việc được ngay, giảm thời gian ngừng máy đề sửa chữa, tận dụng được thời gian sản xuất của nó. VỀ mặt công nghệ, nếu có các chỉ tiết được thiết kế và chế tạo đảm bảo tính lắp lẫn sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, thực hiện chuyên môn hoá đễ dàng, tạo điều kiện để áp dụng kỹ thuật tiên tiến, tổ 8 chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.2 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép a.

Kích thước Kích thước là giá trị bằng số của đại lượng đo chiều dài (đường kính, chiều dài,.) theo đơn vị đo được lựa chọn. Trong công nghệ chế tạo cơ khí, đơn vị đo thường dùng là milimét (mm) hoặc vạch và qui ước thống nhất trên các bản vẽ kỹ thuật không cần ghi chữ “mm”. Ví dụ chỉ tiết máy có đường kính 19,95 mm, chiều dài 125,5 mm thì trên bản vẽ chỉ ghi 19,95 và 125,5. Kích thước danh nghĩa Kích thước danh nghĩa là kích thước được xác định dựa vào chức năng của chỉ tiết, sau đó chọn cho đúng với trị số gần nhất của kích thước có trong bản tiêu chuẩn.

Ví dụ khi tính toán người thiết kế xác định được kích thước của chỉ tiết là 35,785 mm; đối chiếu với bản tiêu chuẩn chọn kích thước là 36 mm. Kích thước 36 mm này là kích thước danh nghĩa của chỉ tiết. Kích thước danh nghĩa được dùng để xác định các kích thước giới hạn và tính sai lệch. Kích thước danh nghĩa của chỉ tiết lỗ ký hiệu là D; của chỉ tiết trục ký hiệu là d (hình 1.1) a) Trục b)Lỗ Hình 1.

Ký hiệu kích thước của trục và lỗ Bảng 1.1: Các kích thước tiêu chuẩn được cho trong khoảng từ 1 đến 500mm (TCVN 192 — 66. Kích thước wu tiên, KT 2,2 5,0 11,0 25,0} 55,0 1250| 280,0 1,05 24 5,2 115 26,0} 60,0 130,0} 300. Kich thước thực Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chỉ tiết bằng những dụng cụ đo và phương pháp đo chính xác nhất mà kỹ thuật đo có thể đạt được. Trong thực tế không phải lúc nào cũng xác định được kích thước một cách chính xác, như vậy nên còn cho phép quan niệm kích thước thực là kích thước được xác định bằng cách đo với sai số cho phép.

Dt : Kích thước thực của chỉ tiết lỗ dt : Kích thước thực của chỉ tiết trục. Khi gia công, không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, sự sai lệch giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa phụ thuộc nhiều yếu tố : độ chính xác của máy, dao gia công, dụng cụ gá lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ v. Miền sai lệch cho phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thuộc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của các chỉ tiết. Kích thước giới hạn Khi gia công bat kỳ một một kích thước của chỉ tiết nào đó, ta cần phải quy định một phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước đó.

Phạm vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước quy định gọi là giới hạn. Dạ, dạ¿„ : Kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ, trục Dan, dạịn : Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ, trục Kích thước giới hạn là hai kích thước lớn nhất và nhỏ nhất mà kích thước thực của các chỉ tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. Phạm vi cho phép phải quy định sao cho các chỉ tiết đạt được được tính lắp lẫn về phương diện kích thước. 10 Nhu vay chi tiét dat yêu sử dụng thì kích thước thực của nó thoả mãn điều kiện sau: e.

Sai lệch giới hạn Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa, là hiệu số giữa các kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Có 2 loại sai lệch giới hạn đó là sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới. Sai lệch giới hạn trên là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên của lỗ ký hiệu là ES, của trục ký hiệu là es (Hình 1.b) fa ø m œ H 3 8 Sy Tt \ {| „ ' = — = š w a} - - .Ễ dị a a š tls Ja a a) b) ©) d) Hình 1.

Sai lệch giới hạn của chỉ tiết lỗ (a, b) và chỉ tiết trục (e, d) Sai lệch giới hạn dưới là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới đưới trên của lỗ ký hiệu là EI, của trục ký hiệu là ei (Hình 1.4) Chú ý: 1- Tuy theo tinh chất của mối ghép yêu cầu mà kích thước giới hạn có những giá trị khác nhau. Sai lệch giới hạn có giá trị dương (> 0) (Hình 1.2b,c) khi kích thước giới hạn lớn hơn kích thước danh nghĩa. 10 11 Sai lệch giới hạn bằng không khi kích thước giới hạn bằng kích thước danh nghĩa.

2- Ngoài sai lệch giới hạn TCVN 2244 — 77 còn qui định sai lệch thực và sai lệch cơ bản. Sai lệch thực là hiệu đại số giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa. Sai lệch cơ bản là một trong hai sai lệch (trên hoặc dưới) được dùng để xác định vị trí của miền dung sai so với đường “0” (đường biểu thị vị trí kích thước danh nghĩa), trong tiêu chiẩn này quy định sai lệch gần với đường “0” là sai lệch cơ bản. Ví dụ: Một chỉ tiết trục có kích thước danh nghĩa d = 50mm; kích thươc giới hạn lớn nhất d„ụ„ = 50,055mm; kích thước giới hạn nhỏ nhất d„¡ạ = 49,985mm.

tính trị số sai lệch giới hạn trên, sai lệch giới hạn dưới Bài giải : - Theo công thức (1.b) ta có giới hạn sai lệch của trục: es = đụay — d = 50,055 — 50 = 0,055mm - Theo công thức (4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ