Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường nghề vận hành máy thi công mặt đường trình độ cao đẳng phần 1 cđ gtvt trung ương i

Giáo trình Dung sai lắp ghép và Kỹ thuật đo lường nghề Vận hành máy thi công mặt đường. Tài liệu cho sinh viên cao đẳng GTVT Trung ương I.

Chuyên ngành

Dung Sai Lắp Ghép Và Kỹ Thuật Đo Lường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2017

53
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường

Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường nghề vận hành máy thi công mặt đường trình độ cao đẳng phần 1 CĐ GTVT Trung Ương I là một tài liệu học thuật nền tảng, đóng vai trò then chốt trong chương trình đào tạo. Nội dung giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức cơ sở về cơ khí mà còn trang bị những kỹ năng thực hành thiết yếu, giúp sinh viên tự tin bước vào môi trường làm việc chuyên nghiệp. Việc nắm vững các khái niệm về dung sai, sai lệch và phương pháp đo lường chính xác là yêu cầu bắt buộc đối với một kỹ thuật viên vận hành và bảo dưỡng máy móc hiện đại. Tài liệu này được biên soạn cô đọng, logic, dựa trên chương trình đã được Tổng cục Dạy nghề phê duyệt, đảm bảo tính ứng dụng cao trong thực tiễn sản xuất và sửa chữa, đặc biệt trong lĩnh vực thi công xây dựng công trình giao thông. Đây là tài liệu cao đẳng nghề vận hành máy xây dựng không thể thiếu.

1.1. Tầm quan trọng của module đào tạo dung sai đo lường nghề

Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển, các chi tiết máy móc, đặc biệt là máy thi công mặt đường, đòi hỏi độ chính xác ngày càng cao. Module đào tạo dung sai đo lường ra đời để đáp ứng yêu cầu này. Môn học trang bị kiến thức cơ bản về tính đổi lẫn chức năng, một nguyên tắc cốt lõi trong sản xuất hàng loạt và sửa chữa. Theo giáo trình, "tính lắp lẫn của một loại chi tiết máy là khả năng thay thế cho nhau trong lắp ghép mà không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đã quy định". Điều này giúp đơn giản hóa quá trình lắp ráp, giảm thời gian ngừng máy để sửa chữa và tạo điều kiện chuyên môn hóa sản xuất. Việc hiểu rõ bản chất các mối lắp ghép và sử dụng thành thạo dụng cụ đo cơ khí chính xác là kỹ năng sống còn của người thợ kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.

1.2. Mục tiêu cốt lõi của giáo trình cơ kỹ thuật CĐ GTVT TWI

Giáo trình cơ kỹ thuật này đặt ra các mục tiêu rõ ràng: sinh viên phải nêu và giải thích được hệ thống dung sai lắp ghép theo tiêu chuẩn TCVN về dung sai; trình bày đầy đủ khái niệm, ký hiệu các mối lắp; và quan trọng nhất là đo, đọc chính xác kích thước bằng các dụng cụ đo thông dụng. Một mục tiêu quan trọng khác là khả năng "chuyển hoá được các ký hiệu dung sai thành các trị số gia công tương ứng". Điều này cho phép người kỹ thuật viên đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí một cách hiệu quả và áp dụng vào thực tế gia công, kiểm tra sản phẩm. Ngoài ra, giáo trình còn nhấn mạnh việc rèn luyện tác phong làm việc cẩn thận, nghiêm túc và tuân thủ các quy định về an toàn lao động trong thi công đường bộ, đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn cho người lao động.

II. Thách thức trong việc đọc bản vẽ và sai lệch giới hạn cơ khí

Một trong những thách thức lớn nhất đối với sinh viên và kỹ thuật viên mới vào nghề là hiểu và áp dụng đúng các khái niệm về dung sai, sai lệch. Việc gia công một chi tiết không bao giờ đạt được kích thước tuyệt đối chính xác do nhiều yếu tố ảnh hưởng. Do đó, khái niệm về sai lệch giới hạn trong cơ khí ra đời để quy định một phạm vi cho phép. Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường của CĐ GTVT Trung Ương I tập trung giải quyết vấn đề này bằng cách định nghĩa rõ ràng các loại kích thước: danh nghĩa, thực tế, và giới hạn. Hiểu sai hoặc áp dụng sai các khái niệm này có thể dẫn đến việc chế tạo ra các chi tiết không lắp lẫn được, gây lãng phí và ảnh hưởng đến chất lượng chung của máy móc, công trình.

2.1. Phân biệt các loại kích thước và sai lệch giới hạn cơ khí

Giáo trình định nghĩa rõ ràng: Kích thước danh nghĩa là kích thước xác định dựa trên chức năng và được tiêu chuẩn hóa. Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chi tiết. Để đảm bảo tính đổi lẫn, kích thước thực phải nằm trong một khoảng cho phép, được giới hạn bởi hai kích thước giới hạn (lớn nhất và nhỏ nhất). Từ đó, khái niệm sai lệch giới hạn trong cơ khí được hình thành. Sai lệch giới hạn trên (ES, es) và sai lệch giới hạn dưới (EI, ei) là hiệu số đại số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Việc tính toán và kiểm soát các sai lệch này là nền tảng để xác định dung sai của chi tiết (IT), vốn là "hiệu giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước giới hạn nhỏ nhất". Nắm vững các khái niệm này giúp người thợ kiểm soát chất lượng gia công một cách hiệu quả.

2.2. Khó khăn khi đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí và ký hiệu dung sai

Việc đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí đòi hỏi khả năng diễn giải chính xác các ký hiệu phức tạp. Trên bản vẽ, kích thước không chỉ được ghi bằng con số mà còn đi kèm các ký hiệu về miền dung sai (ví dụ: Ø40H7, Ø40f7). Những ký hiệu này chứa đựng thông tin về sai lệch cơ bản và cấp chính xác, quyết định vị trí và độ lớn của miền dung sai. Một kỹ thuật viên phải hiểu rằng 'H7' chỉ một miền dung sai cụ thể của lỗ theo hệ thống lắp ghép ISO, với sai lệch dưới bằng không. Việc không hiểu rõ các ký hiệu này sẽ dẫn đến gia công sai, ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính của mối ghép. Giáo trình cung cấp các ví dụ và bài tập thực hành cụ thể để sinh viên làm quen và thành thạo kỹ năng quan trọng này, từ đó tự tin áp dụng vào công việc bảo dưỡng kỹ thuật máy công trình.

III. Hướng dẫn hệ thống dung sai lắp ghép theo tiêu chuẩn TCVN

Để đảm bảo tính thống nhất và khả năng đổi lẫn trong sản xuất cơ khí trên quy mô lớn, việc áp dụng một hệ thống tiêu chuẩn là bắt buộc. Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường giới thiệu chi tiết về hệ thống dung sai lắp ghép bề mặt trơn theo tiêu chuẩn TCVN về dung sai, vốn được xây dựng dựa trên các kiến nghị của ISO. Hệ thống này cung cấp một bộ quy tắc chặt chẽ để lựa chọn và thiết kế các mối ghép, từ đó đảm bảo chức năng làm việc mong muốn của sản phẩm. Việc hiểu rõ cấu trúc của hệ thống, bao gồm các cấp chính xác, các sai lệch cơ bản và hai hệ thống lắp ghép chính (lỗ cơ bản và trục cơ bản), là kiến thức nền tảng để thiết kế và chế tạo các chi tiết máy đạt yêu cầu kỹ thuật.

3.1. Phân loại các nhóm lắp ghép Lỏng Chặt Trung gian

Đặc tính của một mối ghép được quyết định bởi mối quan hệ giữa kích thước của chi tiết bao (lỗ) và chi tiết bị bao (trục). TCVN phân chia thành ba nhóm lắp ghép chính. Lắp ghép có độ hở (lắp lỏng) xảy ra khi kích thước lỗ luôn lớn hơn kích thước trục, cho phép chuyển động tương đối. Lắp ghép có độ dôi (lắp chặt) xảy ra khi kích thước trục luôn lớn hơn kích thước lỗ, tạo ra sự cố định bền chặt. Lắp ghép trung gian là loại quá độ, tùy thuộc vào kích thước thực tế mà có thể tạo ra độ hở hoặc độ dôi nhỏ. Mỗi nhóm lắp ghép có phạm vi ứng dụng riêng, ví dụ, lắp lỏng dùng cho ổ trượt, lắp chặt dùng để cố định bánh răng lên trục mà không cần then. Việc lựa chọn đúng kiểu lắp là yếu tố quyết định đến hiệu suất và tuổi thọ của cấu tạo và nguyên lý máy thi công.

3.2. Tìm hiểu hệ thống lắp ghép ISO và quy định sai lệch cơ bản

Giáo trình giới thiệu hai hệ thống lắp ghép tiêu chuẩn: hệ thống lỗ cơ bản và hệ thống trục cơ bản. Trong hệ thống lắp ghép ISO cũng như TCVN, hệ thống lỗ cơ bản được ưu tiên sử dụng vì lý do kinh tế. Trong hệ thống này, lỗ cơ bản (ký hiệu 'H') có sai lệch giới hạn dưới bằng không (EI=0). Các kiểu lắp khác nhau được tạo ra bằng cách thay đổi miền dung sai của trục. Ngược lại, hệ thống trục cơ bản (ký hiệu 'h') có sai lệch giới hạn trên bằng không (es=0). TCVN 2244-99 quy định 28 sai lệch cơ bản cho lỗ (ký hiệu bằng chữ in hoa A, B, C...) và 28 sai lệch cơ bản cho trục (a, b, c...), dùng để xác định vị trí của miền dung sai so với đường không. Sự kết hợp giữa sai lệch cơ bản và cấp chính xác (ví dụ H7, g6) tạo nên một miền dung sai hoàn chỉnh trên bản vẽ kỹ thuật.

3.3. Yếu tố ảnh hưởng đến độ nhám bề mặt và chuỗi kích thước

Ngoài dung sai kích thước, chất lượng của một chi tiết còn phụ thuộc vào dung sai hình dạng, vị trí và độ nhám bề mặt. Bề mặt chi tiết sau gia công luôn có những nhấp nhô ảnh hưởng đến độ mòn, độ bền và khả năng chống ăn mòn. Giáo trình quy định các chỉ tiêu đánh giá độ nhám như Ra, Rz và 14 cấp độ nhám khác nhau. Bên cạnh đó, khái niệm chuỗi kích thước cũng được đề cập. Đây là một tập hợp các kích thước nối tiếp nhau tạo thành một vòng khép kín, dùng để giải quyết các bài toán về lắp ráp và đảm bảo độ chính xác của khâu khép kín trong một cụm máy. Việc tính toán và giải chuỗi kích thước giúp xác định dung sai của các chi tiết thành phần để đảm bảo dung sai của cụm lắp ráp nằm trong giới hạn cho phép, một kỹ năng rất quan trọng trong thiết kế cơ khí.

IV. Bí quyết sử dụng dụng cụ đo cơ khí chính xác hiệu quả

Lý thuyết về dung sai và lắp ghép sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu kỹ năng thực hành đo lường. Phần II của giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường tập trung vào việc giới thiệu các dụng cụ đo cơ khí chính xác và phương pháp sử dụng chúng. Việc đo kiểm chính xác là bước cuối cùng để xác nhận một chi tiết có đạt yêu cầu kỹ thuật hay không. Kỹ năng này không chỉ đòi hỏi sự am hiểu về cấu tạo, nguyên lý của dụng cụ mà còn cần sự cẩn thận, tỉ mỉ và tuân thủ đúng quy trình thao tác. Nắm vững các kỹ thuật đo lường giúp người vận hành máy có thể tự kiểm tra, đánh giá tình trạng của các chi tiết trong quá trình bảo dưỡng kỹ thuật máy công trình, góp phần phát hiện sớm các hư hỏng và ngăn ngừa sự cố.

4.1. Cấu tạo và cách đo bằng panme và thước cặp chính xác

Hai trong số những dụng cụ đo phổ biến nhất là panme và thước cặp. Thước cặp (vernier caliper) thường dùng để đo kích thước ngoài, trong và chiều sâu với độ chính xác phổ biến là 0.05mm hoặc 0.02mm. Giáo trình mô tả chi tiết cấu tạo gồm thân thước, mỏ đo, du xích và hướng dẫn cách đọc trị số bằng cách kết hợp số đo trên thang chính và thang phụ. Panme (micrometer) cho độ chính xác cao hơn, thường là 0.01mm, được sử dụng để đo các kích thước yêu cầu dung sai nhỏ. Cấu tạo của panme phức tạp hơn với mỏ đo, trục đo, và ống đo vi sai. Nguyên lý đo của panme dựa trên sự kết hợp giữa cơ cấu vít-đai ốc. Việc sử dụng đúng lực đo và đọc kết quả chính xác trên cả thang chính và thang phụ của panme là kỹ năng quan trọng mà giáo trình nhấn mạnh.

4.2. Phương pháp kiểm tra kích thước chi tiết máy trong thực tế

Phương pháp kiểm tra kích thước chi tiết máy không chỉ dừng lại ở việc đo chiều dài hay đường kính. Giáo trình còn giới thiệu các phương pháp đo và kiểm tra các thông số phức tạp hơn như sai số hình dạng (độ côn, độ ô van) và sai số vị trí (độ không song song, không vuông góc). Ví dụ, để kiểm tra độ côn của một chi tiết trục, người ta cần đo đường kính ở hai đầu của chi tiết và so sánh sự chênh lệch. Để kiểm tra độ đảo mặt đầu, đồng hồ so thường được sử dụng. Các phương pháp này yêu cầu sự kết hợp linh hoạt giữa nhiều loại dụng cụ đo và kỹ năng gá đặt, phân tích số liệu. Việc nắm vững các phương pháp này đảm bảo chất lượng sản phẩm không chỉ về kích thước mà còn cả về hình học, yếu tố quyết định đến sự vận hành trơn tru của máy móc.

4.3. Các loại đồng hồ so và ứng dụng trong đo lường kỹ thuật

Đồng hồ so là một dụng cụ đo so sánh có độ nhạy rất cao, dùng để kiểm tra sai lệch hình dạng hình học và vị trí tương quan của các bề mặt. Nguyên lý hoạt động của nó là khuếch đại những dịch chuyển nhỏ của đầu đo thành những chuyển động lớn hơn của kim chỉ trên mặt đồng hồ. Giáo trình giới thiệu ứng dụng của đồng hồ so trong việc kiểm tra độ không song song, độ không vuông góc, độ đảo hướng kính, và độ đảo mặt đầu. Ví dụ, để kiểm tra độ đảo hướng kính của một trục, người ta gá trục lên hai mũi tâm, đặt đầu đo của đồng hồ so tiếp xúc với bề mặt trục, sau đó quay trục và quan sát sự dao động của kim chỉ. Giá trị dao động lớn nhất chính là độ đảo của trục. Đây là một công cụ không thể thiếu trong lĩnh vực cơ khí chính xác và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

V. Ứng dụng dung sai đo lường vào bảo dưỡng máy thi công

Kiến thức từ giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường không chỉ phục vụ cho việc chế tạo mà còn có giá trị ứng dụng to lớn trong lĩnh vực vận hành và bảo dưỡng. Đối với nghề vận hành máy thi công mặt đường, việc hiểu rõ dung sai của các mối ghép giúp kỹ thuật viên chẩn đoán chính xác nguyên nhân hư hỏng và thực hiện sửa chữa đúng kỹ thuật. Các chi tiết máy như bạc lót, trục khuỷu, piston, xi lanh đều được lắp ghép với nhau theo những tiêu chuẩn dung sai nghiêm ngặt. Khi các chi tiết này bị mòn quá giới hạn cho phép, độ hở của mối ghép sẽ tăng lên, gây ra rung động, giảm hiệu suất và có thể dẫn đến phá hủy máy. Do đó, kỹ năng đo kiểm là một phần không thể tách rời của công tác bảo trì.

5.1. Vai trò của dung sai trong bảo dưỡng kỹ thuật máy công trình

Trong công tác bảo dưỡng kỹ thuật máy công trình, việc kiểm tra độ mòn của các chi tiết là một nhiệm vụ thường xuyên. Kỹ thuật viên phải sử dụng các dụng cụ đo cơ khí chính xác như panme, thước cặp, đồng hồ so để đo kích thước thực tế của các chi tiết như cổ trục, bạc lót, xi lanh. Sau đó, so sánh kết quả đo được với kích thước và dung sai tiêu chuẩn do nhà sản xuất quy định. Nếu độ mòn vượt quá giới hạn cho phép, chi tiết đó cần được sửa chữa hoặc thay thế. Ví dụ, nếu độ hở giữa piston và xi lanh quá lớn, động cơ sẽ bị lọt khí, giảm công suất và tiêu thụ nhiều nhiên liệu. Việc kiểm soát dung sai trong bảo dưỡng giúp kéo dài tuổi thọ thiết bị, đảm bảo máy hoạt động ổn định và an toàn.

5.2. Hiểu cấu tạo và nguyên lý máy thi công qua các mối ghép

Việc phân tích các mối ghép trong một cỗ máy giúp hiểu sâu hơn về cấu tạo và nguyên lý máy thi công. Mỗi mối ghép được thiết kế với một kiểu lắp (lỏng, chặt, trung gian) để thực hiện một chức năng cụ thể. Mối ghép giữa trục và ổ bi là lắp lỏng để cho phép trục quay tự do. Mối ghép giữa bánh răng và trục có thể là lắp trung gian hoặc lắp chặt kèm theo then để truyền mô-men xoắn. Bằng cách đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí của máy và phân tích các ký hiệu dung sai, người kỹ thuật viên có thể hình dung được sự tương tác và chuyển động giữa các bộ phận. Kiến thức này vô cùng hữu ích khi cần tháo lắp, sửa chữa, giúp thực hiện công việc một cách khoa học, tránh làm hỏng các chi tiết do lắp sai quy cách.

5.3. Quy tắc an toàn lao động trong thi công đường bộ và sửa chữa

Mặc dù là một giáo trình cơ kỹ thuật, các nguyên tắc về an toàn luôn được lồng ghép. Việc sử dụng các dụng cụ đo, tháo lắp các chi tiết máy nặng và vận hành máy móc đều tiềm ẩn những rủi ro. Các quy tắc về an toàn lao động trong thi công đường bộ và sửa chữa máy móc là tối quan trọng. Điều này bao gồm việc trang bị đầy đủ bảo hộ lao động, sử dụng đúng dụng cụ cho từng công việc, kiểm tra an toàn thiết bị trước khi vận hành và tuân thủ các quy trình tháo lắp. Việc đo kiểm các chi tiết liên quan đến hệ thống phanh, lái phải được thực hiện với sự cẩn trọng cao nhất, bởi dung sai sai lệch ở đây có thể dẫn đến những tai nạn thảm khốc. Do đó, kiến thức kỹ thuật và ý thức an toàn phải luôn song hành.

30/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: MH 10—01 Giới thiệu: Là môn học cơ sở tuy nhiên dung sai đo lường lại là môn học có nhiều kiến thức bổ ích đối với người học, nó mang lại cho người học những kiến thức về các lắp ghép chỉ tiết, về sai lệch kích thước,.phục vụ cho công việc gia công và chế tạo. Mục tiêu: - Trình bày đầy đủ kích thước danh nghĩa, kích thước thực, kích thước giới hạn, dung sai chỉ tiết, dung sai lắp ghép - Trinh bày rõ đặc điểm của các kiểu lắp ghép: Lắp lỏng - Lắp chặt - lắp trung gian - Trình bày đầy đủ các quy định về lắp ghép theo hệ thống lỗ và hệ thống trục, hai dãy sai lệch cơ bản của lỗ và trục các lắp ghép tiêu chuẩn - Vẽ đúng sơ đồ phân bố miền dung sai theo hệ thống lỗ và hệ thống trục và xác định được các đặc tính của lắp ghép khi cho một lắp ghép - Xác định được phạm vi phân tán kích thước của trục va 16 để điều chỉnh dụng cụ cắt và kiểm tra kích thước gia công - Giải thích đúng các dạng sai lệch về hình dạng, sai lệch vị trí bề mặt được ghi trên bản vẽ gia công - Biểu diễn và giải thích đúng các ký hiệu độ nhám trên bản vẽ gia công - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về dung sai và kỹ thuật đo. Nội dung chính: 1.1 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép Mục tiêu: ~ Trình bày được tính đồi lẫn chức năng trong cơ khí - Trình bày được các khái niệm về kích thước và dung sai lắp ghép - Ung dung vào việc giải các bài tập có liên quan 1.1 Khái niệm về tính đỗi lẫn chức năng trong ngành cơ khí chế tạo a. Bản chất của tính lắp lẫn Máy do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận do nhiều khâu, khớp, chỉ tiết lắp ghép lại với nhau, trong chế tạo cũng như sửa chữa máy, con người mong muốn các chỉ tiết máy cùng loại có khả năng lắp đổi lẫn được cho nhau - nghĩa là khi cần thay thế nhau, không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm mà vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của mối lap ghép.

Tinh chất đó của chỉ tiết gọi là tính lắp lẫn (đồi lẫn chức năng ). 7 Tinh lắp lẫn của một loại chỉ tiết máy là khả năng thay thế cho nhau trong lắp ghép mà không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đã quy định. Tính lắp lẫn có 2 loại đó là lắp lẫn hoàn toàn và lắp lẫn không hoàn toàn. Nếu trong một loạt chỉ tiết cùng loại, mà các chỉ tiết đều có thể lắp lẫn được cho nhau thì loạt chỉ tiết đó đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn; nếu một số trong các chỉ tiết ấy không lắp lẫn cho nhau được hoặc khi lắp lẫn cho nhau cần phải gia công thêm mới lắp ghép được thì loạt chỉ tiết đó chỉ đạt được tính lắp lẫn không hoàn toàn.

Các chỉ tiết có tính lắp lẫn phải giống nhau về hình dạng về kích thước, hoặc kích thước chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép nào đó, phạm vi cho phép đó gọi là dung sai. Như vậy dung sai là yếu tố quyết định tính lắp lẫn, tuỳ theo giá trị của dung sai mà chỉ tiết đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn hay lắp lẫn không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chỉ tiết phải có độ chính xác cao, do đó giá thành sản phẩm cao. Đối với các chỉ tiết tiêu chuẩn như bu lông - đai Ốc, bánh rang, 6 lan., cdc chi tiét dy tri, thay thé thường được chế tạo có tính lap lẫn hoàn toàn.

Lắp lẫn không hoàn toàn cho phép các chỉ tiết chế tạo với phạm vi dung sai lớn hơn, thường thực hiện đối với công việc lắp ráp trong nội bộ phân xưởng hoặc nhà máy. Vai trò của tính lắp lẫn Tính lắp lẫn trong chế tạo máy là điều kiện cơ bản và cần thiết của nền sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất hàng loạt, nếu không đảm bảo các nguyên tắc của tính lắp lẫn thì không thể sử dụng bình thường nhiều loại đồ dùng phương tiện trong cuộc sống của chúng ta. Ví dụ : Lấp một bóng đèn điện vào đui đèn; vặn đai ốc vào một bulông bất kỳ có cùng kích cỡ kích thước, lắp ổ lăn có cùng số hiệu về kích thước vào trục và ổ trục nào đó.

Trong sản xuất, nhờ tính lắp lẫn của chỉ tiết quá trình lắp ráp được đơn giản thuận tiện. Trong sửa chữa, nếu thay thế một chỉ tiết bị hỏng bằng một chỉ tiết dự trữ cùng loại. Ví dụ: xéc măng, piston .thì máy có thể làm việc được ngay, giảm thời gian ngừng máy để sửa chữa, tận dụng được thời gian sản xuất của nó. Về mặt công nghệ, nếu có các chỉ tiết được thiết kế và chế tạo đảm bảo tính lắp lẫn sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, thực hiện chuyên môn hoá dễ dàng, tạo điều kiện để áp dụng kỹ thuật tiên tiến, tổ 8 chức sản xuất hop ly, nâng cao năng xuất va chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.2 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép a.

Kích thước Kích thước là giá trị bằng số của đại lượng đo chiều dài (đường kính, chiều dài,.) theo đơn vị đo được lựa chọn. Trong công nghệ chế tạo cơ khí, đơn vị đo thường dùng là milimét (mm) hoặc vạch và qui ước thống nhất trên các bản vẽ kỹ thuật không cần ghi chữ “mm”. Ví dụ chỉ tiết máy có đường kính 19,95 mm, chiều dài 125,5 mm thì trên bản vẽ chỉ ghi 19,95 và 125,5. Kích thước danh nghĩa Kích thước danh nghĩa là kích thước được xác định dựa vào chức năng của chỉ tiết, sau đó chọn cho đúng với trị số gần nhất của kích thước có trong bản tiêu chuẩn.

Ví dụ khi tính toán người thiết kế xác định được kích thước của chỉ tiết là 35,785 mm; đối chiếu với bản tiêu chuẩn chọn kích thước là 36 mm. Kích thước 36 mm này là kích thước danh nghĩa của chỉ tiết. Kích thước danh nghĩa được dùng để xác định các kích thước giới hạn và tính sai lệch. Kích thước danh nghĩa của chỉ tiết lỗ ký hiệu là D; của chỉ tiết trục ký hiệu là d (hình 1.1) LZ a) Truc b) Lỗ Hình 1.

Ký hiệu kích thước của trục và lỗ Bảng 1.1: Các kích thước tiêu chuẩn được cho trong khoảng từ 1 đến 500mm (TCVN 192 — 66. Kích thước ưu tiên KT 2,2 5,0 11,0 25,0 55,0 125,0 280,0 1,05 24| 5,2 115 26,0} 60,0 130,0) 300,0 1,10 2,5 aD 12,0 28,0} 63,0 140,0|_ 320,0 1,15 2,6} 6,0 13,0 30,0} 65,0 150,0|_ 340,0 1/20 2,8 6,3 14,0 32,0] 70,0 160,0) 360,0 1,30 3,0} 6,5 15,0 34,0} 75,0 170,0} 380,0 1,40 3,2| 7,0 16,0 36,0} 80,0 180,0) 400,0 1,50 34| 7,5 17,0 38,0} 85,0 190,0|_ 420,0 1,6 3,6 8,0 18,0 40,0} 90,0 200,0} 450,0 1,7 3,8 8,5 19,0 42,0) 95,0 210,0} 480,0 1,8 4,0} 9,0 20,0 45,0 100,0} 220,0) 500,0 1,9 42| 9,5 21,0 48,0 1050| 240,0 2,0 4,5 10,0} 22,0 50,0 1100| 250,0 2,1 4,8 10,5} 24,0 52,0 120,0| 260,0 c. Kích thước thực Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chỉ tiết bằng những dụng cụ đo và phương pháp đo chính xác nhất mà kỹ thuật đo có thể đạt được. Trong thực tế không phải lúc nào cũng xác định được kích thước một cách chính xác, như vậy nên còn cho phép quan niệm kích thước thực là kích thước được xác định bằng cách đo với sai số cho phép.

Dt : Kích thước thực của chỉ tiết lỗ dt : Kích thước thực của chỉ tiết trục. Khi gia công, không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, sự sai lệch giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa phụ thuộc nhiều yếu tố : độ chính xác của máy, dao gia công, dụng cụ gá lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ v. Miền sai lệch cho phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thuộc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của các chỉ tiết. Kích thước giới hạn Khi gia công bất kỳ một một kích thước của chỉ tiết nào đó, ta cần phải quy định một phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước đó.

Phạm vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước quy định gọi là giới hạn. Dynaxs Imax: Kich thước giới hạn lớn nhất của lỗ, trục Dan, đụịa : Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ, trục Kích thước giới hạn là hai kích thước lớn nhất và nhỏ nhất mà kích thước thực của các chỉ tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. Phạm vi cho phép phải quy định sao cho các chỉ tiết đạt được được tính lắp lẫn về phương diện kích thước. 10 Như vậy chi tiết đạt yêu sử dụng thì kích thước thực của nó thoả mãn điều kiện sau: Dạ¿y > Dt > Dinin wv dinax > dt > dinin IV e.

Sai lệch giới hạn Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa, là hiệu số giữa các kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Có 2 loại sai lệch giới hạn đó là sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới. Sai lệch giới hạn trên là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên của lỗ ký hiệu là ES, của trục ký hiệu là es (Hình 1.b) œ) Lu} 1i) m 1 ú œ s dÌz : 22⁄3 = a a a x = da Ji -1 = Qa KN NN a b c d Hình 1.

Sai lệch giới hạn của chỉ tiết lỗ (a, b) và chỉ tiết trục (c, đ) Sai lệch giới hạn dưới là hiệu đại sé giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới dưới trên của lỗ ký hiệu là EI, của trục ký hiệu là ei (Hinh 1.4) Chú ý: 1- Tuỳ theo tính chất của mối ghép yêu cầu mà kích thước giới hạn có những giá trị khác nhau. Sai lệch giới hạn có giá trị dương (> 0) (Hình 1.2b,c) khi kích thước giới hạn lớn hơn kích thước danh nghĩa. 11 Sai lệch giới hạn bằng không khi kích thước giới hạn bằng kích thước danh nghĩa.

2- Ngoài sai lệch giới hạn TCVN 2244 — 77 còn qui định sai lệch thực và sai lệch cơ bản. Sai lệch thực là hiệu đại số giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ