Giáo trình Cơ thể học Động vật Nghề Dịch vụ Thú y Cao đẳng - Hệ Tim mạch

Giáo trình cơ thể học động vật phần 2 cung cấp kiến thức chuyên sâu cho sinh viên ngành dịch vụ thú y tại trường cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Cơ Thể Học Động Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình
56
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

5. CHƯƠNG 5: HỆ TIM MẠCH

5.1. Giới thiệu

5.2. Vai trò của máu trong cơ thể

5.3. Tim (heart)

5.3.1. Hình thái ngoài

5.3.2. Hình thái trong

5.4. Cấu tạo của tim

5.5. Các mạch máu nuôi tim

5.6. Các động mạch (Arteria) hay “phát quản”

5.6.1. Hình thái chung

5.6.2. Cách bắt nguồn

5.6.3. Vị trí

5.6.4. Cách đi vào một cơ quan

5.6.5. Cấu tạo của động mạch

5.7. Các tĩnh mạch (Vena) hay “hồi quản”

5.8. Các vòng tuần hoàn của cơ thể

5.8.1. Vòng tuần hoàn lớn

5.8.2. Vòng tuần hoàn nhỏ

5.9. Các mạch máu chính trong cơ thể

5.9.1. Các động mạch của vòng tuần hoàn lớn

5.9.1.1. Cung động mạch chủ (Arcus aortae)
5.9.1.2. Các động mạch của vùng ngực, cổ, đầu và chi trước
5.9.1.3. Các động mạch của xoang ngực, bụng, mông và chi sau
5.9.1.4. Các động mạch của tim

5.9.2. Các động mạch của vòng tuần hoàn nhỏ

5.9.3. Các tĩnh mạch của vòng tuần hoàn lớn

5.10. Hệ bạch huyết (Apparatus lymphaticus)

5.10.1. Các mao mạch bạch huyết

5.10.2. Các mạch bạch huyết

5.10.3. Các ống mạch bạch huyết lớn nhất của cơ thể

5.10.4. Các hạch bạch huyết

5.10.4.1. Cấu tạo
5.10.4.2. Sự phân bố các hạch bạch huyết trong cơ thể
5.10.4.3. Các hạch bạch huyết chính trên cơ thể

5.11. Thực hành: Giải phẫu chi tiết hệ tuần hoàn trong cơ thể gia súc

5.11.1. Yêu cầu

5.11.2. Chuẩn bị nguyên vật liệu

5.11.3. Các bước thực hiện

5.11.4. Tổng kết, nhận xét đánh giá và viết báo cáo

5.12. Câu hỏi ôn tập

6. CHƯƠNG 6: HỆ HÔ HẤP

6.1. Giới thiệu

6.2. Mục tiêu

6.3. Chức năng

6.4. Về việc cấu trúc tổng quát, hệ thống hô hấp

6.5. Cấu tạo xoang mũi và xoang đầu mặt

6.5.1. Xoang mũi (Cavum nasi)

6.5.2. Các xoang đầu mặt

6.5.2.1. Xoang trán (sinus frontali)
6.5.2.2. Xoang hàm trên (sinus maxillari)
6.5.2.3. Xoang sàng (sinus ethmoidal)
6.5.2.4. Xoang bướm (cavum sphenoidal)

6.6. Thanh quản (larynx)

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Cơ thể học Động vật Hệ Tim mạch

Giáo trình Cơ thể học Động vật cung cấp kiến thức cơ bản về cấu trúc và chức năng của hệ tim mạch trong cơ thể động vật. Hệ tim mạch đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển máu, cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho các tế bào. Bài viết này sẽ đi sâu vào các thành phần chính của hệ tim mạch, bao gồm tim, động mạch, tĩnh mạch và hệ bạch huyết.

1.1. Hệ tim mạch và vai trò của nó trong cơ thể động vật

Hệ tim mạch bao gồm tim và các mạch máu, có chức năng chính là vận chuyển máu. Máu mang oxy và chất dinh dưỡng đến các tế bào, đồng thời thu gom các chất thải để bài tiết ra ngoài. Hệ tim mạch cũng giúp điều hòa thân nhiệt và cân bằng chất điện ly trong cơ thể.

1.2. Cấu trúc tổng quát của hệ tim mạch

Hệ tim mạch được chia thành hai phần chính: hệ thống tuần hoàn lớn và hệ thống tuần hoàn nhỏ. Hệ thống tuần hoàn lớn bắt đầu từ tâm thất trái, trong khi hệ thống tuần hoàn nhỏ bắt đầu từ tâm thất phải. Cấu trúc của tim và các mạch máu rất đa dạng và phức tạp.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hệ tim mạch động vật

Nghiên cứu về hệ tim mạch động vật gặp nhiều thách thức, từ việc xác định cấu trúc chính xác đến việc hiểu rõ chức năng của từng thành phần. Các yếu tố như loài động vật, môi trường sống và chế độ dinh dưỡng đều ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động của hệ tim mạch.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ tim mạch

Sự phát triển của hệ tim mạch có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền, chế độ ăn uống và môi trường sống. Những yếu tố này có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe như bệnh tim mạch, huyết áp cao và các rối loạn khác.

2.2. Thách thức trong việc nghiên cứu và giảng dạy

Việc giảng dạy về hệ tim mạch trong giáo trình Cơ thể học Động vật cần phải cập nhật thường xuyên để phản ánh những nghiên cứu mới nhất. Điều này đòi hỏi giảng viên phải có kiến thức sâu rộng và khả năng truyền đạt hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu hệ tim mạch động vật hiệu quả

Để nghiên cứu hệ tim mạch động vật một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Các phương pháp này bao gồm giải phẫu, siêu âm, chụp X-quang và các kỹ thuật hình ảnh khác.

3.1. Giải phẫu và mô phỏng hệ tim mạch

Giải phẫu là phương pháp truyền thống nhưng rất hiệu quả để hiểu rõ cấu trúc của hệ tim mạch. Việc sử dụng mô hình và hình ảnh giúp sinh viên hình dung rõ hơn về các thành phần của hệ tim mạch.

3.2. Sử dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu

Công nghệ như siêu âm và chụp X-quang giúp quan sát hoạt động của tim và mạch máu trong thời gian thực. Những công nghệ này cung cấp thông tin quý giá về chức năng tim mạch và giúp phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hệ tim mạch động vật

Nghiên cứu về hệ tim mạch không chỉ có giá trị học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong y học và thú y. Kiến thức về hệ tim mạch giúp phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh lý liên quan.

4.1. Ứng dụng trong y học

Kiến thức về hệ tim mạch giúp bác sĩ chẩn đoán và điều trị các bệnh tim mạch ở người. Các nghiên cứu về hệ tim mạch động vật cũng cung cấp thông tin quý giá cho việc phát triển thuốc và phương pháp điều trị mới.

4.2. Ứng dụng trong thú y

Trong thú y, việc hiểu rõ hệ tim mạch giúp bác sĩ thú y chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tim mạch ở động vật. Điều này không chỉ cải thiện sức khỏe của động vật mà còn nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hệ tim mạch động vật

Nghiên cứu về hệ tim mạch động vật đang ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh y học hiện đại. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phát hiện mới, giúp cải thiện sức khỏe cho cả động vật và con người.

5.1. Tương lai của nghiên cứu hệ tim mạch

Với sự phát triển của công nghệ, nghiên cứu về hệ tim mạch sẽ ngày càng chính xác và hiệu quả hơn. Các phương pháp mới sẽ giúp phát hiện sớm và điều trị hiệu quả các bệnh lý tim mạch.

5.2. Tầm quan trọng của giáo dục trong nghiên cứu

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tim mạch. Việc đào tạo các thế hệ bác sĩ và nhà nghiên cứu mới sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của lĩnh vực này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Giáo trình cơ thể học động vật nghề dịch vụ thú y cao đẳng phần 2 trường cao đẳng cộng đồng đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu: giảng viên hướng dẫn cách giải phẫu hệ tuần hoàn, vị trí, hình thái, cấu tạo của tim, động mạch, tĩnh mạch, vị trí các hạch trên tiêu bản và heo thí nghiệm. + Học viên thực hành lại các nội dung giảng viên hướng dẫn + Hướng dẫn thường xuyên: phân lớp thành từng nhóm nhỏ 3-5 học viên, mỗi nhóm quan sát trên tiêu bản, động vật thí nghiệm và tranh ảnh về vị trí, hình thái, cấu tạo của hệ tuần hoàn. + Giảng viên theo dõi và sửa lỗi trong quá trình thực hiện của học viên 3. Tổng kết, nhận xét đánh giá và viết báo cáo - Kết quả và sản phẩm cần đạt được: Xác định đúng vị trí, hình thái, cấu tạo của tim trên tiêu bản và động vật thí nghiệm.

- Đánh giá kết quả thực hành căn cứ vào kết quả thu thập thông tin và quan sát chi tiết các cơ quan theo yêu cầu giảng viên. - Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết. - Thực hiện đúng thao tác kỹ năng phẫu thuật. - Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc.

- Viết bài phúc trình, vẽ hình hệ tim mạch Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày vị trí, hình thái ngoài của tim trên gia súc (heo, bò, chó) 60 2. Phân biệt các mạch máu trong cơ thể (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch) về vị trí, hoạt động. Mô tả hệ bạch huyết trong cơ thể 4.

Cho biết vị trí, chức năng các hạch bạch huyết trên cơ thể gia súc. 61 CHƯƠNG 6 HỆ HÔ HẤP MH12-06 Giới thiệu: Mọi cơ thể sống đều hô hấp (hấp thu oxy từ môi trường và thải khí cacbonic, trừ 1 số vi khuẩn yếm khí sống trong môi trường thiếu oxy). Nhu cầu oxy đối với cơ thể rất cần thiết. Trong cơ thể, oxy cần thiết cho mỗi tế bào, nhiệm vụ của hoạt động hô hấp là dẫn không khí cho tiếp xúc trực tiếp với máu, máu là tác nhân vận chuyển oxy tới tất cả các bộ phận cơ thể.

Các cơ quan hô hấp bao gồm đường d.ẫn khí trong đó có xoang mũi, thanh quản, khí quản và cơ quan trao đổi khí. Mục tiêu: - Kiến thức: Nắm rõ được vị trí, chức năng, hoạt động của hệ hô hấp - Kỹ năng: Xác định được vị trí, hoạt động của hệ hô hấp đối với cơ thể động vật - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin giải quyết các vấn đề có liên quan đến cơ thể học của các loài động vật. Chức năng - Cung cấp oxy cho tế bào trong cơ thể và thải ra ngoài khí CO2 - Điều hòa thân nhiệt bằng cách tăng tần số hô hấp - Tham gia vào việc giúp đỡ cơ quan khứu giác nhận biết mùi của không khí. - Hô hấp và bài thải một số chất bay hơi.

Về việc cấu trúc tổng quát, hệ thống hô hấp bao gồm một hệ thống các xoang và các ống dẫn đi từ trước ra sau có: Xoang mũi  Yết hầu  Thanh quản  Khí quản  Phế quản  Phổi (nằm trong xoang ngực). Cấu tạo xoang mũi và xoang đầu mặt 2. Xoang mũi (Cavum nasi) Trước khi đi vào phổi, không khí phải qua xoang mũi. Ở đây không khí được lọc sạch, tẩm ướt, sưởi nóng lên.

Xoang mũi là một xoang rất phức tạp, giới hạn trước là 2 lỗ mũi, đây là 2 cửa hình bầu dục, có niêm mạc liên tục với phần da của mặt và niêm mạc của môi, cửa sau là yết hầu. 62 Nơi dùng chung của đường hô hấp và đường tiêu hóa. Giới hạn trên là 2 xương mũi, giới hạn bên là xương hàm trên, giới hạn dưới là xương hàm trên và xương khẩu cái, toàn bộ xoang mũi được chia làm hai bởi bức ngăn mũi. Đây là một cấu tạo nằm ngay mặt phẳng giữa của đầu, phía dưới xuất phát từ xương lá mía và xương cân ở phía sau, ở trên dính với xương trán và xương mũi dọc theo mặt phẳng giữa.

Phần lớn vách ngăn mũi này có cấu tạo là mô sụn nên còn gọi là sụn ngăn mũi, trên mặt sụn có nhiều đường ngăn dọc, nơi có mạch máu và thần kinh đi qua. Trong mỗi nửa xoang mũi, được lấp đầy bởi các xương loa mũi hay còn gọi là xương cuộn, mỗi bên có hai xương loa, là loa trên và loa dưới. Niêm mạc mũi lát toàn bộ bề mặt của xoang mũi. Toàn bộ diện tích của niêm mạc mũi phân làm hai vùng: + Vùng hô hấp: Niêm mạc màu hồng, với nhiều tế bào hình trụ có tiêm mao, có nhiều tuyến mũi để tiết ra chất nhầy.

+ Vùng khứu giác: Nằm ở phía sau của xoang mũi, diện tích rất nhỏ so với vùng khứu giác, không có lông (tiêm mao). Đây là vùng nhận biết mùi của không khí nhờ các tuyến khứu giác. Các xoang đầu mặt Là những hang, ngách đục rỗng trong các xương của đầu, gồm có hang trán, hang hàm, hang bướm và hang khẩu cái. Các hang này thông với nhau và thông với xoang mũi nên khi thở không khí sẽ đi một phần vào các xương này.

Các xoang làm cho xương đầu nhẹ bớt, nó cũng làm ổn định nhiệt độ của bộ não, nếu bị viêm ở vùng này, nước viêm có thể thải ra ngoài qua xoang mũi. - Xoang trán (sinus frontali): Có hai xoang trán bao trùm lên phần trước, bên và trên của hố sọ kéo dài lên đến gốc sừng. Đây là một hệ thống hang phát triển nhất so với các hang khác. Hai hang trán ở hai bên không thông thương được với nhau nhưng thông được với xoang mũi.

- Xoang hàm trên (sinus maxillari): Hai hang hàm trên phần lớn nằm trong xương hàm trên và một phần nhỏ nằm trong xương gò má, hai hang này cũng không thông được với nhau nhưng thông với xương khẩu cái và xoang mũi. - Xoang sàng (sinus ethmoidal): Ở trong lồng xương sàng, nó thông với phần trong ống cuộn hàm qua một khe. - Xoang bướm (cavum sphenoidal): Nhỏ, nằm trong thân của xương bướm, thông với hang trán. Thanh quản (larynx) Thanh quản là một bộ phận cấu tạo phức tạp của đường hô hấp.

Thanh quản là một xoang ngắn nằm giữa yết hầu và khí quản, dưới xương thiệt cốt. Ngoài chức phận là đường hô hấp còn là một cơ quan chính để phát âm. Thanh quản có chức năng bảo quản đường hô hấp từ khí quản vào đến phổi, không cho thức ăn tràng vào khí quản nhờ một miếng sụn đặc biệt là sụn tiểu thiệt hay còn gọi là nắp thanh quản. Cấu tạo các sụn của thanh quản: - Sụn tiểu thiệt (sụn trên hầu: cartilago epiglottis): Nằm ở dưới, hình tam giác, đỉnh nhọn của tam giác hướng về phía trước.

Đây là mảnh sụn chuyển động nhiều nhất, có thể hướng lên trên, để khớp với sụn phễu khi đóng thanh quản. - Sụn giáp trạng (cartilago thyreoidea): Là một sụn kép gồm hai mảnh khớp với nhau ở dưới, theo mặt phẳng giữa tạo nên thành dưới của xoang thanh quản. - Sụn nhẫn (cartilago cricoidea): Nằm ở sau cùng, hình giống chiếc nhẫn đeo tai, phía sau khớp với sụn của khí quản. - Sụn phễu (cartilago aritacnoidea): Là cửa trước của thanh quản, có dạng hình phễu, nằm trước sụn nhẫn, trên sụn giáp.

Khí quản (Trachea) Là một ống dẫn khí, bắt đầu từ sụn nhẫn của thanh quản đến rốn phổi (ngã ba phế quản) cấu trúc chính của khí quản là các vòng sụn hình chữ C ghép, ghép liên tục với nhau. Đến rốn phổi, khí quản chia thành hai phế quản. Phần miệng của hình chữ C hướng lên trên. Có khoảng 50 vòng sụn, khí quản được chia làm hai đoạn gồm đoạn vùng cổ và đoạn vùng ngực.

- Đoạn cổ: Từ thanh quản đến cửa lồng ngực (ngang đôi xương sườn số 1). Đoạn này nằm dưới thực quản, giữa các cơ dài cổ. Động mạch cổ chung và thần kinh số 10 chạy song song ở mỗi bên. - Đoạn ngực: Từ cửa lồng ngực đến ngã ba phế quản.

Đoạn này nằm trong phần trung thất trước tim, phía trên tĩnh mạch chủ trước. Phế quản (Bronchus) Là hai nhánh tận cùng của khí quản, mỗi phế quản đi vào một nhánh phổi tương ứng. Khi đi vào phổi nó tiếp tục chia nhiều nhánh nhỏ thành một hệ thống nhiều cỡ, để đến tận cùng các phế nang và thường đi song song với các mạch máu. Những phế quản nhỏ gọi là tiểu phế quản, nhánh tiểu phế quản tận cùng phát ra nhiều nhánh thông với những nang nhỏ - phế nang.

64 Cấu tạo các phế quản cũng giống như khí quản, nghĩa là gồm những vòng sụn hình chữ C, bên trong lát lớp niêm mạc mà biểu mô của chúng có lông rung. Xoang ngực và phế mạc (Cavum thoracis and Pleura) 6. Xoang ngực Xoang ngực là khoảng giới hạn ở phía trên bởi các đốt xương sống lưng, hai bên bởi các xương sườn và các cơ liên sườn, phía dưới là xương ức và các sụn sườn, phía trước là của vào gớin hạn bởi hai xương sườn thứ nhất, phía sau gọi là cửa ra có cơ hoành ngăn cách với xoang ngực và xoang bụng. Vách ngăn giữa xoang ngực chia xoang ngực ra làm hai phần: Nhìn một cách tổng quát, xoang ngực hẹp ở phía trước, rộng ở phần sau do độ dài và độ cong của các xương sườn.

Xoang ngực bị một màng chạy từ trước ra sau, song song với mặt phẳng giữa gọi là màng phổi giữa, đây là một phần của lá thành phế mạc. Màng phổi giữa tách ra để thành một xoang chính giữa gọi là xoang trung thất. Xoang này chứa tim và màng bao tim, tuyến ức, thực quản, khí quản, phế quản, các mạch máu lớn, các hạch bạch huyết. Màng phổi hay phế mạc Màng phổi là 1 màng tương mạc bao bọc ở mặt trong xoang ngực gồm.

có hai lá tạng và lá thành - Lá tạng: Là màng mỏng bao bọc bên ngoài của phổi, lá tạng liên tục với màng phổi giữa của lá thành. - Lá thành: Bao bọc xung quanh xoang ngực thành 1 túi kính. Ở hai bên lá thành bao phủ các xương sườn gọi là màng phổi sườn, ở phía sau phủ mặt trước cơ hoành gọi là màng phổi hoành cách mô. Phía trước chắn ngang cửa lồng ngực gọi là màng phổi cổ.

Màng phổi bình thường mỏng và láng vì có một lớp dịch nhờn làm ướt bề mặt. Nếu viêm thì lớp này rất nhiều. Phổi (lung) Phổi là cơ quan chủ yếu của hệ hô hấp, là nơi trao đổi khí giữa không khí và máu; thải khí carbonic từ máu ra không khí và hấp thu khí oxi từ không khí vào máu để dẫn đi khắp các tổ chức cơ thể 65 7. Hình thái ngoài Gồm hai lá phổi phải và trái, chiếm gần trọn vẹn các nữa của xoang ngực.

Vì xoang ngực hẹp ở phía trước, rộng ở phía sau nên lá phổi cũng mỏng ở phía trước, đầy ở phía sau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ