CHƯƠNG 1 1.Trình bày khái niệm về cơ sở tạo hình? 2. Trình bày các điều kiện cảm nhận thị giác trong cơ sở tạo hình? 14 CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA CƠ SỞ TẠO HÌNH Mục tiêu - Về kiến thức: Trang bị cho học sinh các kiến thức về các yếu tố như nét, màu sắc, chất liệu, cách bố cục trong tạo hình. - Về kỹ năng: Giúp học sinh có thể tự làm, trang trí các sản phẩm đồ họa. Điểm, nét, diện trong tạo hình: - Điểm là nguồn gốc ban đầu, điểm dùng để chỉ ra một vị trí trong không gian.
Điểm chuyển động sinh ra nét, nét chuyển động sinh ra diện, diện chuyển động sinh ra khối. Điểm, nét, diện trong tạo hình trong tạo hình 2. Khái niệm về điểm, nét, diện: 2.Khái niệm về điểm: - Điểm là nguồn gốc ban đầu để tạo nên hình. Điểm còn dùng để chỉ một vị trí trong không gian.
- Điểm không có phương hướng nhưng có tính tập trung, điểm không có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Điểm trong tạo hình - Điểm là thành phần cơ bản và là cội nguồn của tạo hình. Điểm cũng được coi như dấu hiệu của điểm mút của đường thẳng, điểm cắt của hai đường thẳng, là điểm chạm của một đường thẳng vào góc của một diện hay một tâm của khối. Đồng thời điểm cũng có thể là tâm điểm của một trường hay một diện.
Điểm trong tạo hình - Điểm có thể được hình thành do phép chiếu một đường thẳng, một đoạn thẳng hay tuyến tính, ví dụ như: cột được đọc trên mặt bằng như là một điểm và giữ những đặc trưng thị giác như một điểm. Như vậy, tâm vòng tròn, tâm đáy khối trụ, tâm của khối cầu cũng là những hình thức điểm mà ta cần phải quan tâm trong tạo hình. Điểm trong tạo hình 2. Khái niệm về nét: - Một điểm được kéo dài sẽ tạo thành nét.
Nét có chiều dài, nhưng không có chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên nét vẫn phải có độ dày để mắt người có thể quan sát được. 16 Có 2 loại đường nét : - Các đường viền của vật thể, đường viền của mặt phẳng, các giao diện, các loại nét này giúp xác định được hình dạng của vật thể trong không gian. - Các loại nét tồn tại độc lập.
Nét xác định hình dạng vật thể Hình 2 - 5. Nét tồn tại độc lập - Khả năng biểu hiện của nét trong nghệ thuật tạo hình được trích từ Landscape Architecture như sau: Hình 2 - 6. Nét liên tưởng 17 Đột xuất Vươn trải Nhấn mạnh Biến đổi tĩnh tại Tĩnh tại Dứt khoát Thăng bằng Nhẹ nhàng Bất tĩnh tại Sức mạnh Hình 2 - 7. Khả năng biểu hiện của nét thể hiện thông qua chiều hướng 2.
Khái niệm về diện: - Một đường trải dài theo một hướng sẽ tạo thành một diện. Diện có hai chiều dài và rộng nhưng không có chiều sâu. - Đường chu vi là đặc điểm của một diện, do đó một diện xuất hiện từ những đường biên, được nhìn từ chính diện hoặc trong phối cảnh. Sức mạnh thị cảm và độ bền vững của một diện phụ thuộc vào diện tích, chất cảm, màu sắc và nét trong diện.
- Một diện ngoài chiều dài và chiều rộng còn có hình dáng, diện tích và phương hướng. Kết hợp diện theo kiểu đấu đỉnh Hình 2 - 9. Chia cắt và dịch chuyển diện 18 Hình 2 - 10. Kết hợp các diện đen trắng và màu sắc 2.
Hiệu quả rung: 2. Khái niệm: - Mỗi một tín hiệu thị giác hình thành một trường lực riêng của mình. Nếu các tín hiệu ở gần nhau chúng sẽ hình thành một vùng giao nhau giữa các trường lực riêng đó. Và con mắt khi quan sát lúc thì bị hút bởi trường lực của tín hiệu thị giác này, lúc thì bị hút trường lực của tín hiệu thị giác kia.
Như vậy, đối với con mắt luôn có một vùng không ổn định, đấy chính là hiệu quả rung. Hiện tượng – Nguyên tắc: - Hiện tượng: Giữa các điểm, các đường có một sức căng thị giác, một lực thị giác tác động tương hỗ. Mỗi điểm hình thành một trường lực riêng của mình. Nếu chúng ở gần nhau, chúng sẽ hình thành một vùng giao thoa nhau giữa các trường lực riêng đó.
Ở vùng giao đó, con mắt khi thì bị hút bởi trường của điểm nạy, lúc thì bị hấp dẫn bởi trường của điểm kia. Như vậy, đối với mắt luôn có một vùng không ổn định. - Nguyên tắc: Muốn tăng hiệu quả rung của điểm và nét, ta cần tạo nên sự đối kháng của lực thị giác: Đối kháng về độ lớn, về hướng vận động. Đối với điểm và nét ta cần giữ một độ đều toàn cục, độ đều này có thể ở thể tĩnh hay biến đổi đều.
Hiện tượng hiệu quả rung 2. Kỹ thuật tạo rung: - Giảm (tăng) dần đều của nét : Khi ta tạo được sự tăng dần đều độ dày của nét, thì thực chất ta đã làm giảm dần đều khoảng cách gữa chúng. Sự tăng - giảm này tạo nên hai chuyển động thị giác ngược chiều nhau → tạo độ rung. Kỹ thuật tạo rung bằng cách giảm (tăng) dần đều các nét 20 Hình 2 - 13.
Kỹ thuật tạo rung của điểm và nét Hình 2 - 14. Hiệu quả rung trong kiến trúc 2. Hiệu quả ảo: 2. Khái niệm: - Từ những đặc tính của thị giác, ta có thể đảo lộn vị trí của nét, các mặt, các khối trong không gian ba chiều để tạo nên cái không thật trong cái thật, tạo nên tính lập lờ, đa nghĩa trong hình.
Đó là hiệu quả ảo của đường nét. Các thủ pháp tạo hiệu quả ảo: - Khi thay đổi vị trí của các điểm, nét trong không gian tạo nên hiệu quả ảo. Tạo hiệu quả ảo bằng cách thay đổi vị trí các điểm nét - Tạo nên một hình có thể hiểu được nhiều cách: 21 Nếu nhìn từ trên xuống thì sẽ là các bậc cầu thang đi lên. Nếu nhìn từ dưới lên thì sẽ gầm của một cầu thang.
Tạo ra hình ảnh với nhiều cách hiểu khác nhau Với hình vẽ sau ta có thể nhìn nó là một khối lập phương có đỉnh đang hướng về phía người quan sát. Nhưng nhìn kỹ thì nó cũng có thể là một góc tường (2 bức tường và sàn). Tạo ra hình ảnh với nhiều cách hiểu khác nhau - Sự kết hợp giữa thực tế và tạo hình: Sự kết hợp giữa thực tế và tạo hình trong cùng một không gian cũng tạo ra hiệu quả ảo rất mạnh. Kết hợp tạo hình với thực tế 23 BÀI TẬP THỰC HÀNH SỐ 1 Bài tập tạo điểm, diện, nét.
Nội dung: - Cho bài mẫu. Chọn 1 trong 2 mẫu để thể hiện. Yêu cầu: - Vẽ trên giấy A4 theo kích thước giáo viên quy định. - Dụng cụ: Bút chì, thước kẻ, tẩy, compa… 24 25 2.
Phông và hình: 2. Vai trò của phông và hình: - Hình bao: bao giờ cũng xuất hiện như một vật thể rõ nét dưới mọi dạng thức và nỗi lên trên một cái nền. Hình chỉ tồn tại khi nó đứng lên trên một cái nền. - Nền: Nền chỉ là nền khi nó làm cho hình rõ ra.
- Ranh giới giữa hình và nền là đường bao. Các định luật của phông và hình: 2. Định luật của sự chuyển đổi: - Cái nhỏ là hình, cái lớn là nền. Định luật này còn được gọi là định luật âm – dương, đen – trắng, lồi - lõm.
Khi hai nhóm tín hiệu thị giác xuất hiện trên một mặt phẳng mà có tỉ lệ kích thước đối tượng tương đồng nhau, đồng thời màu sắc của phông tín hiệu kia sẽ tạo cho thị giác một sự chuyển đổi. Hình tròn đen là hình, màu trắng là nền Hình 2 - 20. Hình trắng là hình, màu đen là nền 2. Định luật của sự tương phản: - Định luật của sự tương phản (đối lập) là định luật được các nhà thiết kế sử dụng rộng rãi.
- Sự tương phản là một trong những yếu tố để phân biệt giữa hình và nền. Khi nói đến khái niệm tương phản là nói đến sự mâu thuẫn giữa to và nhỏ, sáng và tối…Các mâu thuẫn càng mạnh sự tương phản càng lớn, khi đó hình tượng nghệ thuật càng sinh động. Tương phản theo các chiều hướng Hình 2 - 22. Tương phản kích thước giữa hình và nền 2.
Lẫn lộn phông hình: Lẫn lộn phông hình nhằm luyện khả năng cảm nhận hình phẳng. Lẫn lộn phông hình nghĩa là cả phông và hình đều có hai vai trò. Khi tín hiệu này là phông thì tính hiệu kia là hình và ngược lại. Ví dụ về phông hình lẫn lộn Qua ví dụ ta thấy hai hình con cò, khi mảng hình con cò trắng là phông thì con cò đen là hình và ngược lại.
Tương tự như vậy với hình khi thì mảng hình mặt người đóng vai trò là hình khi thì đóng vai trò là phông. 27 Muốn làm lẫn lộn phông hình ta cần chú ý đến các điểm sau: + Các nét giới hạn các mảng luôn phải là các nét đa nghĩa. + Kích thước của các tín hiệu hình phải tương đối bằng nhau. + Các tín hiệu hình phải đảm bảo tính liên tục và lưu thông từ điểm này đến điểm khác.
+ Các tín hiệu hình phải thật sự đan quyện nhau, tránh các hiện tượng khác biệt của mỗi loại mảng và tình trạng chia nát các mảng. Ví dụ về phông hình lẫn lộn 2. Khái niệm về hình khối: Một diện chuyển động sinh ra khối, trên phương diện khái niệm thì khối có ba chiều: chiều rộng, chiều dài và chiều sâu. Hình khối có thể phân tích và chia cắt ra thành: + Điểm (góc) là nơi hội tụ của nhiều diện.
+ Tuyến ( cạnh ) là đường thẳng nơi hai diện gặp nhau. + Diện (diện tích) là giới hạn của một khối. Diện Điểm Tuyến (Đương thẳng) Hình 2 - 25. Điểm sinh ra nét, nét sinh ra diện, diện sinh ra khối 28 Hình khối có thể đặc hoặc rỗng.
Quan niệm thông thường của chúng ta cho rằng hình khối là hình dạng ba chiều và chúng tồn tại trong không gian ba chiều. Trong không gian ba chiều, bất cứ mỗi quan hệ nào cũng bị đan xen bởi thành tố thuộc chiều thứ ba. Điều này bắt buộc người thiết kế phải nghiên cứu vật thể từ nhiều góc độ của tầm nhìn. Mặc dù cả hình khối và không gian đều được xác định ba chiều, nhưng chúng có sự khác biệt rõ ràng ở chỗ, hình khối có giới hạn còn không gian thì không có giới hạn.
Các loại hình khối: 2. Khối đa diện đều: - Đa diện đều là khối có các diện là các đa giác đều bằng nhau, các góc đa diện bằng nhau.