Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI 1. Hàng hóa và hành vi mua bán hàng hóa trong quan hệ mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa nói chung và mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài nói riêng là hàng hóa. Hàng hóa với tư cách là sản phẩm mua bán là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của quan hệ mua bán hàng hóa.
Một hợp đồng mua bán hàng hóa không thể được xác lập nếu thiếu yếu tố cơ bản là hàng hóa. Dưới góc độ pháp luật, dựa vào đặc trưng của từng loại mà hàng hóa được phân thành bất động sản (gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất đai) và động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình hoặc các quyền tài sản. Hàng hóa có thể là vật, là lao động của con người, là các quyền tài sản mang tính vô hình [35, tr. Theo Điều 3 Luật thương mại Việt Nam 2005 có nêu: Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai.
Thông thường, các nước đều xác định những đối tượng nào được coi là hàng hóa. Ví dụ, theo Luật Mua bán hàng hóa của Vương quốc Anh năm 1973, hàng hóa gồm hoa lợi và những vật dụng gắn liền hoặc hình thành một phần của đất đai đã được thỏa thuận sẽ tách ra trước khi bán hoặc theo hợp đồng mua bán. Luật Mua bán hàng hóa của Vương Quốc Anh không coi đất đai, quyền vô hình, ví dụ, quyền được hoàn trả nợ và tiền là hàng hóa [58]. Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC) (điều 2-105) định nghĩa: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hàng hóa nghĩa là tất cả các vật (bao gồm cả những hàng hóa đặc biệt) mà có thể chuyển dịch vào thời điểm xác định đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, ngoại trừ tiền tệ theo đó giá được trả, các chứng khoán đầu tư (Điều 8) và các vật đang trong quá trình kiện tụng.
Hàng hóa cũng bao gồm con chưa sinh ra của động vật và mùa màng đang trồng cấy và những vật xác định khác gắn liền với hiện thực như được mô tả trong phần về hàng hóa gắn liền với bất động sản được mô tả trong phần về hàng hóa được tách biệt với bất động sản [104]. Hàng hóa phải tồn tại và được xác định trước khi có bất kỳ lợi ích nào có thể chuyển giao. Hàng hóa mà không tồn tại và không được xác định là hàng hóa tương lai. Điều này có nghĩa là hàng hóa phải có sự tồn tại hữu hình về khía cạnh vật lý, có thể sờ nắm và nhìn thấy.
Các tài sản vô hình như chứng khoán, bằng sáng chế và quyền tác giả… chỉ có sự tồn tại về mặt khái niệm và do đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 2 Bộ luật Thương mại thống nhất). Xác định thế nào là hàng hóa không phải luôn là vấn đề dễ dàng trong thực tế. Thực tiễn áp dụng pháp luật ở Hoa Kỳ cho thấy có hai vấn đề có thể nảy sinh tranh chấp liên quan đến việc xác định đối tượng của hợp đồng là hàng hóa và khả năng áp dụng của Điều 2 Bộ luật Thương mại Thống nhất, đó là các vấn đề liên quan đến hàng hóa gắn với bất động sản (mùa màng, cây trồng…) và hợp đồng có sự pha trộn giữa hàng hóa và dịch vụ. Cùng với những quy định pháp luật quốc gia về hàng hóa và những đối tượng không được coi là hàng hóa, pháp luật và thông lệ quốc tế cũng xác định những đối tượng là hàng hóa và đối tượng không được coi là hàng hóa trong quan hệ mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (Ví dụ, Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (sau đây gọi tắt là Công ước Viên) có sự hạn chế nhất định đối với hàng hóa được mua bán, theo đó, Công ước Viên không áp dụng đối với mua bán hàng tiêu dùng, mua bán tàu thủy, máy bay, điện năng, các giao dịch chứng khoán và các giao dịch trong đó phần dịch 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ chiếm chủ yếu.
Công ước Viên còn ghi nhận cả mua bán hàng hóa tương lai, cụ thể là hàng hóa có thể được sản xuất và được bán cũng được coi là hàng hóa). Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài phải thuộc diện đối tượng có thể giao dịch được, không thuộc loại hàng hóa bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, không thuộc diện bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài có nét tương đồng với hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước ở chỗ đều phải là đối tượng có thể giao dịch được, tuy nhiên để có thể xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hóa phải không thuộc diện đối tượng bị cấm hoặc bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy, về bản chất tất cả những của cải phục vụ đời sống vật chất, tinh thần của con người có giá trị và giá trị sử dụng đều là hàng hóa.
Tuy nhiên, không phải tất cả các loại hàng đều là hàng hóa được quy định trong pháp luật thương mại của các nước và các điều ước quốc tế với tư cách là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Do việc xác định hàng hóa trong pháp luật thương mại của các nước phụ thuộc vào ý chí của nhà làm luật nên có sự khác nhau trong quy định hàng hóa là đối tượng thuộc phạm vi áp dụng luật thương mại và hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật của các nước và thông lệ quốc tế cũng làm rõ những trường hợp theo đó một số đối tượng không được coi là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Bên cạnh việc đề cập đến hàng hóa với tư cách là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài nói riêng, pháp luật các nước còn đề cập đến hành vi mua bán hàng hóa.
Mua bán hàng hóa là một hành vi thương mại. Theo pháp luật thương mại của nhiều nước trên thế giới, hành vi thương mại bao gồm các hoạt động như sản xuất, chế tạo ra sản phẩm, mua bán hàng hóa, thuê mướn, chuyên chở hành khách, hàng hóa, môi giới, đại diện, đại lý thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, xây dựng, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất bản. Ví dụ, Bộ luật thương mại và Dân sự Thái Lan quy định các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, thuê tài sản, thuê thầu khoán, thuê mua tài sản, vận tải, đại lý, đại diện, môi giới, bảo hiểm, hoạt động của các hội kinh doanh và công ty. Theo quan niệm của hầu hết pháp luật ở các nước trên thế giới, hành vi mua bán được hiểu là hành vi theo thỏa thuận trong đó một bên là người bán có nghĩa vụ chuyển giao và quyền sở hữu của người mua một tài sản nhất định gọi là hàng hóa (đối tượng của hợp đồng), còn người mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền.
Như vậy, có thể thấy hành vi mua bán hàng hóa có một đặc trưng sau đây: Một là, bằng hành vi cụ thể quy định, hợp đồng bán hàng có thể được ký kết bằng văn bản hoặc bằng thỏa thuận miệng hoặc một phần của hợp đồng thỏa thuận bằng miệng, một phần văn bản hoặc có thể được suy đoán căn cứ vào hành vi của các bên tham gia ký kết hợp đồng. Hai là, chủ thể của hành vi mua bán hàng hóa là thương nhân. Đặc điểm này cho phép phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại. Ba là, hành vi mua bán hàng hóa làm chuyển dịch quyền sở hữu đối với hàng hóa.
Mọi việc mua bán (trừ việc mua bán quyền sử dụng đất) đều làm chuyển dịch quyền sở hữu đối với hàng hóa. Tuy nhiên, khác với hành vi mua bán khác, hành vi mua bán hàng hóa do thương nhân thực hiện với tư cách là thương nhân làm thay đổi chủ sở hữu hàng hóa là loại tài sản thuộc phạm vi áp dụng các quy định của pháp luật thương mại. Hợp đồng mua bán hàng hóa đối với thương nhân nước ngoài cũng có đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài có những đặc trưng riêng so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước.
Những nét đặc thù này có thể nhận thấy thông qua nhiều yếu tố như: về luật điều chỉnh, về chủ thể của hợp đồng… Ví dụ, về luật điều chỉnh, nếu luật điều 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉnh với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là luật quốc gia, thì luật điều chỉnh với hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài có thể là điều ước quốc tế, luật quốc gia… Sự khác biệt này dẫn đến nhiều vấn đề quan trọng cần xác định rõ trong quan hệ giữa các bên của hợp đồng như thông tin về đối tác, xác định luật điều chỉnh hợp đồng, xác định cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp… Điều này khẳng định sự cần thiết của việc tìm hiểu và làm rõ những đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Thương nhân nước ngoài Thương nhân là chủ thể của quan hệ thương mại. Nhìn chung, thương nhân là thuật ngữ để chỉ những người tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận và nhân danh mình để thực hiện các hoạt động kinh doanh đó, nghĩa là những người đó hoạt động kinh doanh một cách độc lập. Pháp luật các nước nhìn chung quan niệm chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài phải là thương nhân, bao gồm cá nhân và công ty thương mại.
Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định những điều kiện để trở thành thương nhân. Theo pháp luật nhiều nước, để trở thành thương nhân cần đảm bảo điều kiện liên quan đến con người và điều kiện liên quan đến công việc, đến hoạt động nghề nghiệp của người đó.