Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non. Chương 2: Thực trạng biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa. Chương 3: Xây dựng biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non. Phần kết luận và kiến nghị sư phạm 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Sơ lược những nghiên cứu về tính tự lập của trẻ ở nước ngoài Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay, việc nghiên cứu tính tự lập cho trẻ đã được các nhà tâm lí học, giáo dục học.
quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau. Họ đã có những nghiên cứu sâu sắc về tính tự lập, bản chất và các thành phần của tính tự lập, quá trình hình thành và phát triển, biện pháp tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục tính tự lực cho trẻ mầm non. Thứ nhất: Nghiên cứu về tính tự lập * Nghiên cứu về tính tự lập của con người nói chung và trẻ em nói riêng Có rất nhiều nhà tâm lý học trên thế giới cho rằng tự lập là một phẩm chất tổng hợp của nhân cách như: A. Họ cho rằng tự lập có cấu trúc vô cùng phức tạp, nó gắn liền với hoạt động ý chí của cá nhân.Nếu cá nhân tích cực hoạt động và có sự nỗ lực cao sẽ hình thành được khả năng tự lập.
Tự lập có quan hệ mật thiết với những quá trình tâm lí như: Tư duy, tưởng tượng, sang tạo, chú ý, ghi nhớ… Các quá trình tâm lí được diễn ra một cách tích cực thì lẽ tất nhiên tự lập cũng được hình thành một cách dễ dàng và tích cực.[1][2][3] Nhà tâm lí học L. L Rubinxtein cho rằng tự lập giống như năng lực hoạt động của con người. Rubinxtein khi nghiên cứu về tự lập thì coi nó như khả năng lựa chọn hành vi. Cá nhân cần biết mình phải làm gì và nên làm gì để giải quyết tình huống đặt ra.
Nếu con người có tính tự lập cao thì việc lựa chọn hành vi sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn rất nhiều. Còn Platonop thì cho rằng tự lập là khả năng tự điều khiển và tích cực của cá nhân không cần sự trợ giúp ở bên ngoài. Con người có khả năng tự lập sẽ biết đưa ra 6 kế hoạch hợp lý, tự biết điều khiển bản than mình để giải quyết tình huống đưa ra một cách tốt nhất mà không cần tới sự giúp đỡ của người khác. Những nghiên cứu này giúp ích rất nhiều cho nền giáo dục, đặc biệt là nền giáo dục mầm non.
Hệ thống giáo dục nhận thấy được hiệu quả tối ưu khi con người có tính tự lập. Từ đó họ đưa ra mục tiêu phát triển tính tự lập ngay từ nhỏ cho trẻ.[4] Các tác giả như EI. cho rằng tính tự lập như một trạng thái hoạt động của cá nhân, được phát triển trên cơ sở là một hình thức mới của tự ý thức, là một phẩm chất ý chí của nhân cách, là khả năng con người biết sử dụng những cố gắng của mình để đặt ra và giải quyết những mục đích có ý nghĩa xã hội. Con người có ý thức sẽ biết cách thích nghi cao với môi trường xã hội.
Cá nhân có tính tự lập sẽ có những sang kiến riêng của bản thân. Với ý chí và nỗ lực cao, cá nhân sẽ lập được kế hoạch và giải quyết được bất cứ nhiệm vụ nào. Họ sẽ luôn tin tưởng vào bản thân, không nhụt chí trước mọi khó. khăn, họ biết lượng sức mình để đưa ra những ý tưởng giải quyết nhiệm vụ một cách phù hợp.
Tuy nhiên những nhà tâm lí này không quên sự ảnh hưởng từ môi trường sống đến việc hình thành khả năng tự lập ở con người. Ngay từ nhỏ trẻ được sống trong môi trường tự lập và được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tính tự lập sẽ dễ dàng hình thành được tính tự lập cho bản thân. Ngược lại nếu bé sống trong môi trường được người khác nuông chiều, cái gì cũng ỷ lại và dựa dẫm vào người khác thì việc có ý chí và hành động khả năng tự lập rất khó có thể có được. Chính vì vậy, từ những quan điểm của các nhà tâm lí mà người lớn cần tạo môi trường thuận lợi để giúp trẻ dễ dàng hình thành khả năng tự lập cho bản thân.[3] *Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tính tự lập cho trẻ mầm non Trên thế giới có rất nhiều phương pháp giúp trẻ hình thành khả năng tự lập thông qua việc trải nghiệm như: Phương pháp Montessori,, phương pháp dạy con theo kiểu Nhật…Montessori cho rằng trẻ cần hình thành tính tự lập trước tuổi lên ba.
Chính vì vậy bà đã sang chế ra bộ học cụ vô cùng hữu hiệu để giúp bé trải nghiệm, khám phá. Thông qua đó khả năng tự lập của bé cũng được nâng cao. Bé được học theo phương pháp này sẽ biết mình cần phải làm gì và luôn nỗ 7 lực để giải quyết nhiệm vụ. Còn các bé người Nhật được học kĩ năng tự phục vụ ngay từ nhỏ.
Chúng ta có thể nhìn thấy những em bé nhỏ xíu người Nhật tự mang cơm đến trường, tự xúc ăn, tự mặc quần áo, … mà không cần sự giúp đỡ của cha mẹ. Việc để cho trẻ tự lập không chỉ giúp cho trẻ tự tin, thể hiện bản lĩnh cá nhân giám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống mà còn giúp trẻ trưởng thành hơn.Rubinstein nghiên cứu khả năng tự lập của trẻ trong sự đi kèm với các nhiệm vụ mà trẻ được giao cho.Khả năng tự lập cũng đi kèm với khả năng tư duy của trẻ. Cần phải tạo ra cho trẻ những tình huống mới với độ phức tạp khác nhau để dựa vào đó trẻ có điều kiện được vận dụng, được thực hành các kiến thức, kỹ năng, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và cả thói quen tự lập - một thói quen vô cùng tốt và cần thiết cho trẻ và người lớn. Theo các công trình nghiên cứu của T.
Đimitriev… thì tính tự lập của con người xuất hiện ngay từ lứa tuổi mầm non. Họ đều cho rằng tự lập được hình thành cùng với sự hình thành ý thức và phẩm chất nhân cách của trẻ và tự lập đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Với các tác giả như L. lại khẳng định lao động đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ.
Trẻ cần được lao động với những nhiệm vụ phù hợp, vừa sức với mình sẽ góp phần phát triển tính tự lập ở trẻ. A Liublinxkaia cho rằng tính tự lập là sản phẩm tuân theo những yêu cầu của người lớn, vừa là sản phẩm sang kiến riêng của trẻ, phát triển qua ba giai đoạn trên cơ sở hình thành kỹ năng – thói quen. Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng tính tự lập cũng như những phẩm chất nhân cách khác của trẻ không tự nhiên sinh ra mà có mà nó còn được xuất hiện, hình thành và phát triển dưới sự tác động của người lớn. 8 Thứ hai: Nghiên cứu về biện pháp giáo dục tính tự lập thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng E.
Petrova xem xét trong hoạt động vui chơi thì khả năng tự lập của trẻ phát triển như thế nào? Bà đã khẳng định: Chơi chính là một hoạt động thực tiễn mang khả năng tự lập của trẻ nhỏ. Tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc.Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực tự nguyện. Nhà giáo dục có thể dựa vào hoạt động vui chơi mà có kế hoạch giáo dục khả năng tự lập của trẻ theo định hướng mục tiêu có chủ đích. Cômenxki khi nghiên cứu về trò chơi đã khẳng định rằng: Chơi là phương tiện, là con đường giúp trẻ chủ động trong việc tạo mối quan hệ với bạn bè, xích lại gần nhau, cùng nhau tạo ra niềm vui cùng bạn bè.
Chính vì vậy, ông khuyên các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo cần có thái độ đúng đắn trong việc hướng dẫn trẻ chơi, khuyến khích trẻ tích cực, chủ động trong quá trình chơi nhằm phát huy vai trò của trò chơi đối với sự phát triển của trẻ. Nghiên cứu về trò chơi A. Uxôva đã khẳng định rằng: trò chơi là hình thức tổ chức cuộc sống của trẻ, là phương tiện hình thành “xã hội trẻ em”. Thông qua trò chơi phát triển ở trẻ tính tự tổ chức, hình thành và phát triển những phẩm chất mang “tính xã hội”.
Đó là khả năng thâm nhập vào xã hội của người lớn, khả năng hành động trong khi chơi, khả năng thành lập được các mối quan hệ với trẻ khác, khả năng phục tùng những yêu cầu của “xã hội trẻ em”… Nghiên cứu về trò chơi E. Chikhieva đã khẳng định trò chơi có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của trẻ. Bà chỉ ra rằng: các trò chơi tập thể giúp trẻ liên kết với nhau, trẻ biết kiềm chế, hi sinh quyền lợi riêng của mình vì tập thể. Theo bà, việc hướng dẫn trẻ chơi là cần thiết, vì ngoài việc giúp trẻ mở rộng nội dung chơi, phát triển các năng lực tổ chức của trẻ, nó còn giúp trẻ giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn trong quá trình chơi với nhau.
Sơ lược những nghiên cứu về tính tự lập của trẻ ở trong nước Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tính tự lập đối với trẻ mầm mầm non ở các lứa tuổi khác nhau. Nhà tâm lí học Hồ Ngọc Đại có những nghiên cứu về tính tự lập ở con người. Ông cũng giống như một số nhà tâm lí học nổi tiếng trên thế giới cho rằng tính tự lập gắn liền với quá trình tâm lí và tự lập được hình thành trong quá trình hoạt động của bản thân. Một số nhà tâm lí học và giáo dục của Việt Nam cũng cho rằng tính tự lập được xuất hiện rất sớm.