phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết. KHÁI QUÁT THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN 1. Thế giới quan duy vật chủ nghĩa 1. Khái niệm TGQ và TGQ duy vật trong triết học Mác-Lênin TGQ ra đời gắn liền với sự xuất hiện của con người từ thời nguyên thủy.
Song đến thế kỷ thứ XVIII TGQ mới được nhà triết học người Đức I. Kant đề cập đến như một khái niệm khoa học. Nửa đầu thế kỷ XIX các nhà triết học người Đức và các nhà triết học sau này đã sử dụng khái niệm TGQ trong các học thuyết của mình đặc biệt là Mác và Ăngghen – những nhà triết học sáng lập nền triết học duy vật được coi là triệt để nhất và một TGQ được coi là khoa học nhất – TGQ duy vật biện chứng. Thuật ngữ TGQ có nguồn gốc từ tiếng Đức và được I.
Kant sử dụng trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán để chỉ thế giới quan sát được với nghĩa là thế giới trong sự cảm nhận của con người. Sau đó khái niệm này được bổ sung với một nội dung quan trọng, từ đây TGQ được hiểu là cái luôn có sẵn, là sự hiện diện của một sơ đồ xác định về thế giới mà không cần bất kỳ lý thuyết giải thích nào. Kể từ đó, khái niệm TGQ được hiểu phổ biến như ngày nay và được tất cả các trường phái triết học đề cập khi phải xem xét vấn đề cơ bản của triết học. Trong cuốn Từ điển Triết học, TGQ được định nghĩa là “Toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của tập đoàn xã hội, của giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại” [68, tr.
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra các quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm về TGQ. Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa “TGQ là hệ thống những quan điểm mang tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh” [67, tr. Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “TGQ là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật thuộc hiện tượng tự nhiên và xã hội) về vị trí của con người trong thế giới đó và những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội” [26, tr. Ở chương trình GDPT 2006, HS THPT tiếp cận với khái niệm TGQ của TH MLN ở môn GDCD 10, phần Công dân với việc hình thành TGQ, PPL khoa học đã tiếp cận với định nghĩa TGQ như sau: “TGQ là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống” [58, tr.
Tuy nhiên ở chương trình GDPT 12 20018 hiện nay thì môn GDCD đã được chuyển đổi thành môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, việc giáo dục TGQ, PPL TH MLN cho HS đã được lồng ghép vào yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh trong từng đơn vị bài học. Từ các quan điểm nêu trên có thể khái quát TGQ như sau: TGQ là hệ thống những quan điểm của “một người hoặc một giai cấp” hay toàn xã hội về “thế giới và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó”. TGQ là cơ sở cho việc “định hướng các hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới” đồng thời “điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày”. Như vậy, TGQ với chức năng chỉ đạo và hướng dẫn mọi hoạt động nhận thức, thực tiễn của con người, đồng thời giúp con người tự ý thức được về bản thân mình.
Theo đặc trưng của khái niệm thì TGQ là hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó. TGQ quy định các nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. TGQ phụ thuộc vào mức độ hiểu biết của con người, vào bối cảnh xã hội cá nhân sinh sống, vào môi trường sinh sống, vào điều kiện sống, yếu tố giáo dục và kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, trong cuộc đời TGQ của mỗi người sẽ bị thay đổi.
Trong một xã hội tiến bộ, việc giáo dục mỗi cá nhân về TGQ đúng đắn và khoa học là vô cùng quan trọng. Mặt khác cần phải thường xuyên bồi dưỡng TGQ đã được giáo dục bằng nỗ lực học tập, học hỏi, không ngừng để củng cố lập trường TGQ đó. Về cấu trúc, TGQ bao hàm trong nó nhân sinh quan – là quan niệm của con người về đời sống với các nguyên tắc, thái độ và định hướng giá trị của hoạt động người. Thành phần chủ yếu của TGQ là: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng.
Trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành và là hạt nhân của TGQ. Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới. Tri thức có nhiều loại tri thức về tự nhiên, về xã hội và về con người. Tuy nhiên, không phải mọi tri thức đều nằm trong cấu trúc của TGQ.
Quá trình nhận thức luôn yêu cầu con người tích cực tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh từ đó có thể cải tạo thế giới. Nhưng tri thức không phải là ý thức. Tri thức biểu hiện những quan điểm, nguyên lý, nguyên tắc phổ biến về tự nhiên, về xã hội và con người nên tri thức thể hiện trình độ nhận thức của con người và nó nằm trong cấu trúc của TGQ và tri thức chỉ gia nhập TGQ khi đã được kiểm nghiệm ít nhiều trong thực tiễn và trở thành 13 niềm tin. Trong đó, những tri thức TH MLN đóng vai trò nền tảng, là hạt nhân lý luận của TGQ duy vật biện chứng.
Tình cảm là một dạng đặc biệt của sự phản ánh thực tế, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người, cũng như giữa con người với thế giới bên ngoài và luôn mang đậm màu sắc cá nhân. Tình cảm tham gia và trở thành một trong những động lực quan trọng của hoạt động con người. Tri thức và tình cảm có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng với trải nghiệm thực tiễn đã tạo nên niềm tin, động lực, sức mạnh để con người có thể vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống. Niềm tin là trạng thái tâm lý, trong đó có sự hòa quyện của cả tri thức, tình cảm và ý chí.
Niềm tin mang bản chất xã hội và có tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại. Niềm tin cũng phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ dân trí. Niềm tin là một trạng thái tâm lý gắn với tồn tại con người. Niềm tin có thể giúp con người vượt qua mọi trở ngại, khó khăn làm cho con người trở nên mạnh mẽ phi thường trước những sóng gió cuộc đời.
Nhờ có niềm tin tri thức mới trở thành cơ sở cho hành động giúp con người xác định mục tiêu, hành động, phương châm sống, hình thành những hoài bão để vươn lên. Lý tưởng là hình thức đặc biệt của ý thức giúp định hướng cho hành động của chủ thể, đó là sự kết hợp của niềm tin và tri thức vào một lý tưởng, hình mẫu nào đó về TGQ mà chủ thể chưa thực hiện được. Lý tưởng giúp con người xác định được hướng đi trong cuộc sống, sống có mục tiêu và khát vọng. Có thể thấy rằng, tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành TGQ của con người.
Nó là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành quan điểm cá nhân về thế giới xung quanh. Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành một phần của TGQ khi nó đã trở thành niềm tin tuyệt đối của con người. Sự hình thành lý tưởng là sự phát triển cao của TGQ. Với tư cách là hệ quan điểm chỉ dẫn tư duy và hành động, TGQ là phương thức để con người chiếm lĩnh hiện thực, thiếu TGQ, con người không có phương hướng hành động.
Lý tưởng cách mạng là sự kết hợp hài hòa giữa “tri thức, tình cảm, ý chí sẵn sàng hành động”. Trong đó yếu tố tri thức khoa học đóng vai trò quan trọng nhất bởi lý tưởng chỉ thật sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên cơ sở niềm tin vững chắc vào sự thật mà tri thức khoa học đem lại. Sống có lý tưởng, có hoài bão ước mơ, con người sẽ có thêm sức mạnh, tự tin vượt qua thử thách, không ngừng vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân. Nhìn chung, “khi thực hiện chức năng của mình, những quan điểm TGQ luôn có xu 14 hướng được lý tưởng hóa, thành những khuôn mẫu văn hóa điều chỉnh hành vi.
Ý nghĩa to lớn của TGQ thể hiện trước hết ở điểm này”.160- 165] Từ các kết cấu của ý thức cho thấy, nhận thức không phải là một quá trình dễ dàng một chiều mà là quá trình quanh co gian khổ vì thế để có được TGQ thì phải trải qua những giai đoạn tiếp nhận tri thức khó khăn. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, con người cần có ý chí và nỗ lực, phải luôn có niềm tin, lý tưởng không ngừng học tập, rèn luyện khai thác tối đa tiềm năng của bản thân trong mọi HĐTN. Chỉ khi đó, con người mới có thể vượt qua được những thử thách, cải tạo thế giới và đạt được thành công. Ở lứa tuổi HS THPT, đây là giai đoạn đầu các em được trang bị kiến thức, xây dựng lý tưởng và củng cố niền tin của bản thân thông qua tri thức các môn học trên lớp, thông qua các hoạt động giáo dục ngoài lớp học như HĐTN, hoạt động của ĐTN về đền ơn đáp nghĩa, về phong trào thanh niên.
Chính thông qua những HĐTN thực tiễn của quá trình giáo dục TGQ của các em được hình thành một cách rõ ràng, sâu sắc hơn. Trong quá trình phát triển của tư duy, TGQ được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau và có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau như: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo, TGQ triết học; ngoài ra còn có thể phân chia thành TGQ thời đại, TGQ dân tộc, TGQ tộc người hoặc TGQ kinh nghiệm,. Song có ba hình thức cơ bản, đó là TGQ huyền thoại TGQ, tôn giáo và TGQ triết học. TGQ huyền thoại là cách cảm nhận thế giới của người nguyên thủy.