CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người, theo định nghĩa trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, cũng chính là “nhân quyền” [34]. Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền con người.
Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ [John Locke (1632–1704)], Rútxô [Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)]… và sau này Mác [Karl Heinrich Marx (1818 – 1883)], Engen [Friedrich Engels (1820 - 1895)], Lênin [Vladimir Ilyich Lenin (1870 – 1924)] cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynh hướng khác nhau, trong đó chủ yếu theo bốn khuynh hướng là: tự nhiên, thực định, kinh tế và quan niệm [38]. Khuynh hướng “quyền tự nhiên”: Những tư tưởng coi quyền con người là quyền “tự nhiên”, “trời phú” đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời”.
Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc Nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học cũng có những tư tưởng tương tự. Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi quyền con người như một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến, và để tập hợp lực lượng trong xã hội; do đó ngay từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được giai cấp 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tư sản đề cập, tiêu biểu như trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ dựa trên Mười tu chính án do James Madison (1751 – 1836) đưa ra. Các tu chính án này hạn chế quyền lực của chính quyền liên bang, bảo vệ quyền của tất cả công dân, những người sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong các quyền được liệt kê mà các tu chính án này đảm bảo có: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo; quyền được mang vũ khí của người dân; quyền tự do hội họp; quyền tự do kiến nghị; quyền không bị lục soát và tịch thu vô lý; quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường; quyền không bị tự buộc tội do bị ép buộc. Đạo luật Nhân quyền cũng hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm Quốc hội ban hành luật về thành lập tôn giáo và cấm chính quyền liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tài sản của bất kỳ người nào mà không thông qua tố tụng pháp luật.
Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, quyền con người là những quyền được bảo hộ “Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với sự chứng kiến và sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con người là của con người và của công dân” [19, tr. Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được tiếp tục thể hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, với tư tưởng chủ đạo là “Hoạt động tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì vậy, không cần phải liệt kê lại những quyền gì là được phép: tất cả những gì luật pháp không nghiêm cấm đều được phép làm; ngược lại, cần phải xác định rõ những điều cần nghiêm cấm, dĩ nhiên là có xét đến những quy định trong Hiến pháp”[15, tr. Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng.
Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định. Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của nó 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người. Khuynh hướng “thực định”: Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên – khuynh hướng không đề ý đến mặt pháp luật và Nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyền con người là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân.
Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyền con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của cá nhân là hợp pháp. Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí mà Nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền con người tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật). Nhưng, nó cũng có nhược điểm ở chỗ, chỉ coi ý chí Nhà nước là nguồn gốc của quyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền, song lại không để ý đến tính hợp lý của nó – cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp lý cho cuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là quyền con người. Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định).
Khuynh hướng “kinh tế”: Khuynh hướng kinh tế coi quyền con người là những quyền nảy sinh từ nhu cầu của sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của quyền con người là kinh tế. Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải do Nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người các quyền. Giáo sư Viện khoa học xã hội Trung Quốc - Từ Sùng Ôn trong bài báo “Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền” trích Tạp chí “Nghiên cứu triết học”, số 12/1992 đã viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định”.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người. Nó tước bỏ cái vỏ “thần thánh”, “tự nhiên”, không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người về với đời sống thực tại của con người. Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người. Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong những đòi hỏi về quyền con người.
Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế. Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần, tình cảm của con người…, nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế. Khuynh hướng “quan niệm”: Khuynh hướng quan niệm cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, tức là quyền lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người. Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau.
Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v.v… Qua phân tích trên đây có thể rút ra kết luận: Quyền con người là những quyền không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; đó là: quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật, quyền an ninh thân thể, quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường…Đó cũng là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người, không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc chuyển nhượng các quyền này. Nói cách khác, quyền con người đóng vai trò “là cơ sở để xác định tính điều chỉnh tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con người trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân” [15,tr. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tính chất của quyền con người Quyền con người có các tính chất cơ bản sau đây: Tính phổ biến Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử vì màu da, chủng tộc, dân tộc, giới tính, độ tuổi, thành phần xuất thân… Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản. Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người. Tính đặc thù Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó.
Ví dụ: ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác.