Chương 1: Cơ sở khoa học về giáo dục pháp luật hành chính cho công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số. Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật hành chính cho công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Yêu cầu, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật hành chính cho công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Khái quát về công chức cấp xã ngƣời dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công chức Theo khoản 2 Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm công chức được quy định như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Công chức cấp xã Tại Khoản 3, Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 92/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định công chức cấp xã có các chức danh sau: - Trưởng Công an; 10 - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội.
Như vậy, theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn này, công chức cấp xã có thể hiểu như sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ chức danh theo chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn), được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý (bao gồm cả công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về xã). Công chức cấp xã ngoài việc nâng cao năng lực công tác chuyên môn nghiệp vụ mà cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, hiểu biết pháp luật và có ý thức pháp luật ở trình độ cao để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Dân tộc thiểu số Khái niệm Dân tộc thiểu số (tộc người thiểu số hay dân tộc ít người) thể hiện trong mối tương quan về số lượng dân số (nhân khẩu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia.
Nếu dân tộc đa số là dân tộc chiếm số lượng đông nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược lại, “dân tộc thiểu số” là các dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất, tức là các dân tộc còn lại. Tại điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia” [13, tr. Như vậy, ở Việt Nam, hiện 11 có 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam và là quốc gia đa dân tộc, ngoài dân tộc Kinh là dân tộc đa số (chiếm hơn 86% dân số cả nước), 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu số (chỉ chiếm gần 14% dân số). Công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số Từ khái niệm công chức cấp xã và dân tộc thiểu số, thì ta có thể hiểu: Công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là những người dân tộc thiểu số được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đặc điểm của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số * Về tiêu chuẩn chung - Tiêu chuẩn của công chức cấp xã được quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn, Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức cấp xã và được bổ sung, sửa đổi tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP, ngày 24/4/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Theo đó, công chức cấp xã phải có trình độ văn hóa tốt nghiệp trung học phổ thông, trình độ chuyên môn tốt nghiệp từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm; có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm. Trường hợp ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì công chức cấp xã phải thành tạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó. 12 - Đối với công chức ở các xã thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn được giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn.
- Chính từ quy định này nên công chức xã có sự đồng nhất và tương đối đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. - Công chức cấp xã phải thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định trong công tác khá cao. - Công chức cấp xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Chất lượng, năng lực của công chức xã sẽ góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.
- Công chức cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào dân, gắn bó với nhân dân. * Đặc điểm riêng - Công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ngoài những đặc điểm chung của công chức cấp xã nêu trên thì còn có những đặc điểm riêng: đó là người dân tộc thiểu số, sống tại địa phương, thành thạo ngôn ngữ của người dân địa phương (chủ yếu là người dân tộc thiểu số), am hiểu tập tục truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của cộng đồng dân tộc mình. Mặt khác, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số lại làm việc trong bộ máy nhà nước nên có sự hiểu biết về chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, công chức cấp là xã người dân tộc thiểu số phải biết vận dụng hài hòa giữa pháp luật của nhà nước và luật tục của địa phương khi thi hành pháp luật.
Vị trí, vai trò của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số Công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Công chức cấp xã là nguồn nhân lực quan trọng trong bộ máy chính quyền cơ sở. Với tính chất và nhiệm vụ được giao, đội ngũ công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các khả năng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và có vai trò trung tâm trong quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng ở địa phương.
Đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số có những vai trò như sau: - Một là, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là lực lượng hạt nhân quan trọng đóng vai trò tích cực trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi, hình thức để thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật tới đồng bào các dân tộc thiểu số rất đa dạng và sử dụng nhiều phương pháp, nhiều lực lượng để tuyên truyền. Để công tác tuyên truyền pháp luật có hiệu quả, chính quyền địa phương phải sử dụng chính lực lượng công chức là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan, tổ chức đoàn thể tại địa phương. Khi tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới người dân ở chính nơi họ sinh sống sẽ tạo được niềm tin cho cộng đồng và có sức thuyết phục cao.