Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới. Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá hiện nay. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƢỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƢỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới Theo Từ điển từ và ngữ Hán – Việt: “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dƣỡng cho con ngƣời những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để ngƣời ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [37, tr. Theo Sổ tay hƣớng dẫn nghiệp vụ Phổ biến giáo dục pháp luật thì: “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tƣợng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gƣơng, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tƣợng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tƣợng” [8, tr. Khái niệm giáo dục pháp luật đƣợc các tác giả thống nhất trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nƣớc ta nhƣ sau: “Giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hƣớng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phƣơng pháp khác nhau tác động lên đối tƣợng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ một cách bền vững tri thức pháp lý, ý thức pháp luật, tình cảm, niềm tin và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật” [23, tr.
Với khái niệm GDPL nêu trên, trong điều kiện đất nƣớc ta đang mở cửa, hội nhập thì việc cung cấp, trang bị những tri thức pháp luật, xây dựng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình cảm và thói quen xử sự bằng pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới là hết sức cần thiết, đây là trách nhiệm của Đảng, của các cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội và của toàn xã hội. Giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới là một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm trong những năm qua. Việc GDPL phải đƣợc tiến hành đồng thời và luôn gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho ngƣời dân vùng biên giới. Nếu không GDPL, nâng cao dân trí cho ngƣời dân vùng biên giới thì không thể phát triển kinh tế - xã hội, không thể đấu tranh tiến tới xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội nhƣ: ma chay, tảo hôn, phạm pháp hình sự, buôn bán phụ nữ, mê tín dị đoan, các vi phạm do thiếu hiểu biết pháp luật, vi phạm về đất đai, bảo vệ rừng.
Do vậy việc GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới là một nhu cầu cấp bách, rất cần thiết trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu công tác GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới nhƣ sau: Giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có tính định hướng của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục là ngƣời dân vùng biên giới, nhằm hình thành ở họ những tri thức pháp luật, tạo niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành. Đặc điểm về giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới Giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới là hình thức giáo dục đặc thù, ngoài đặc điểm chung, GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới còn có đặc điểm riêng. Cụ thể là: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, về mục đích giáo dục Về phƣơng diện lý luận mục đích của GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới là nâng cao hiểu biết kiến thức về pháp luật, tạo cho nhân dân hình thành niềm tin vào pháp luật, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của ngƣời dân vùng biên giới.
Việc xác định đúng đắn mục đích của GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn. Về phƣơng diện lý luận, việc xác định mục đích của GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới sẽ là cơ sở khách quan cho việc xác định hình thức, phƣơng tiện, nội dung, phƣơng pháp giáo dục. Về thực tiễn, xác định đúng mục đích của GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới sẽ phát huy đƣợc vai trò của nó trong toàn bộ hoạt động GDPL và đối với xã hội. Thứ hai, về chủ thể giáo dục Nếu hiểu theo nghĩa rộng, chủ thể GDPL là những cá nhân, tổ chức mà bằng hoạt động của mình trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình GDPL.
Với nhận thức này thì chủ thể GDPL bao gồm: Tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nƣớc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức và các cá nhân nhất định. Theo nghĩa hẹp, chủ thể GDPL là con ngƣời cụ thể, có năng lực hành vi, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có năng lực trình độ chuyên môn, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình GDPL. Với đối tƣợng GDPL là ngƣời dân vùng biên giới, một đối tƣợng có đặc điểm đặc thù thì để công tác GDPL đạt hiệu quả, ngoài nội dung, hình thức phƣơng pháp phù hợp, việc lựa chọn chủ thể GDPL là hết sức quan trọng. Chủ thể GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới ngoài những tiêu chuẩn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên cần có chủ thể là ngƣời có sự nhiệt tình, tâm huyết, có hiểu biết về phong tục tập quán, am hiểu tâm lý của nhân dân và biết tiếng dân tộc thiểu số.
Chủ thể GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới ở đây vấn đề quan trọng không phải ở số lƣợng chủ thể, mà ở chỗ các chủ thể có khả năng điều kiện thích ứng đƣợc đối tƣợng giáo dục, với địa bàn, môi trƣờng sống của ngƣời dân vùng biên giới, có cách thức, phƣơng pháp phù hợp và phải lấy đƣợc "lòng dân". Cụ thể Ủy ban nhân dân các cấp là chủ thể tuyên truyền GDPL cho nhân dân. Thực hiện nhiệm vụ này UBND giao cho Sở Tƣ pháp, phòng Tƣ pháp ở địa phƣơng. Các luật sƣ, luật gia không phải là cán bộ, công chức có nghĩa họ hành nghề chuyên trách.
Chủ thể này cần phải đƣa họ vào trong đội ngũ báo cáo viên pháp luật bởi họ có trình độ pháp lý vững và thông qua hoạt động tƣ vấn, bào chữa các luật gia, luật sƣ đã góp phần hết sức quan trọng vào công tác GDPL Thứ ba, về đối tượng GDPL cho người dân vùng biên giới Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, thì ngƣời dân vùng biên giới ở miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội và tín ngƣỡng tôn giáo khá đặc biệt. Đối tƣợng GDPL là ngƣời dân vùng biên giới - là những ngƣời cán bộ, công chức, viên chức, nông dân, công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên. Ngoài những đặc điểm nói chung về nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. đối tƣợng GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới còn có những đặc điểm đặc thù khác đó là: Bên cạnh một bộ phận đồng bào ngƣời Kinh còn có đồng bào DTTS đều có điểm chung là rất dễ tin, nhƣng niềm tin đó cũng dễ bị thay đổi, bởi vậy hiệu quả của công tác GDPL cho đồng bào DTTS không chỉ là việc làm cho họ hiểu đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc quy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định nhƣ thế nào mà quan trọng hơn là việc đƣờng lối đó, pháp luật đó có đƣợc minh chứng đúng đắn bằng thực tiễn hay không.
Và điều rất quan trọng là chủ thể GDPL phải là những ngƣời gƣơng mẫu. Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng biên giới nhìn chung trình độ văn hoá còn thấp. Đồng thời là những ngƣời chịu nhiều thiệt thòi, ít có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật và sử dụng công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Điều đó đòi hỏi phải có những hình thức, biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn để hỗ trợ một cách thiết thực cho những đối tƣợng này có đƣợc hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình, đƣợc tạo điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp.
Đó chính là cách thể hiện đƣờng lối của Đảng trong công tác GDPL cho ngƣời dân vùng biên giới. Một đặc điểm đặc thù nữa của đồng bào vùng biên giới đó là quan hệ với nƣớc láng giềng, ở các vùng có đông ngƣời DTTS sinh sống thuộc khu vực biên giới Việt Nam - Lào, do địa bàn giáp ranh nên vẫn còn xảy ra tình trạng ngƣời Lào sang mƣu sinh và sau đó ở lại lập gia đình với ngƣời Việt. Có trƣờng hợp lấy chồng hoặc vợ ngƣời Lào nhƣng các cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn, gây khó khăn trong việc quản lý. Bên cạnh đó, do trình độ dân trí còn hạn chế nên tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất, thanh niên vi phạm pháp luật, vƣợt biên sang Lào lao động trái phép diễn biến phức tạp.
Vai trò của giáo dục pháp luật cho ngƣời dân vùng biên giới Thứ nhất, GDPL giúp hình thành ý thức pháp luật và đạo đức cho ngƣời dân vùng biên giới, tăng cƣờng sự hiểu biết pháp luật. Các quy phạm pháp luật đƣợc xây dựng dựa trên nền tảng các nguyên tắc đạo đức. Do vậy mà pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức. Giáo dục đạo đức tạo những tiền đề căn bản để xây dựng sự tôn trọng đối với pháp luật ở công dân, ngƣợc lại, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong đời sống thực tiễn thƣờng ngày những nguyên tắc đạo đức.