phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 1.1- Tổng quan lý luận chung về giáo dục pháp luật.1- Khái niệm GDPL. GDPL là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về GDPL.
Có quan điểm cho rằng, GDPL đồng nghĩa với hoạt động dạy, học pháp luật ở các trường học. Như vậy, quan điểm này không xếp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật diễn ra ngoài phạm vi trường học là GDPL. Khi coi GDPL chỉ là hoạt động dạy, học pháp luật ở trong nhà trường thì vô hình chung chúng ta đã coi nhẹ các hoạt động GDPL diễn ra ngoài trường học, được tiến hành bởi các chủ thể khác những người giáo viên, mà hoạt động GDPL diễn ra ngoài trường học nhiều khi lại có ý nghĩa xã hội hết sức to lớn, có tác dụng cho nhiều đối tượng, có tác động kịp thời, thường xuyên, lâu dài. Một quan điểm khác lại cho rằng, GDPL là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thông tin pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Quan điểm này là nguyên nhân dẫn đến thái độ thụ động của những người làm công tác GDPL, khiến họ chỉ thực hiện việc GDPL khi có văn bản mới ra đời, do vậy, hoạt động GDPL không được tiến hành thường xuyên, có mục đích, có định hướng, khó tạo nên nền văn hoá pháp lý ổn định và ngày càng phát triển trong xã hội. Có quan niệm thậm chí còn cho rằng, pháp luật vốn dĩ có chức năng giáo dục, bản thân pháp luật với những chế tài nghiêm khắc của nó là sự giáo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 dục hữu hiệu nhất, ngoài ra, hoạt động GDPL do bất kỳ chủ thể nào tiến hành cũng đều là điều không cần thiết. Đây thực sự là một quan điểm hết sức cực đoan. Vì, mặc dù bản thân pháp luật đã có chức năng giáo dục, có giá trị giáo dục, song, nếu chúng ta chỉ đơn thuần thực hiện việc công bố các văn bản pháp luật tới nhân dân với hy vọng các chế tài nghiêm khắc được đặt ra trong trường hợp vi phạm các quy định do Nhà nước ban hành sẽ tác động mạnh mẽ đến tri thức người dân, làm giàu hiểu biết pháp luật, thì chắc chắn chúng ta chỉ có được sự hiểu biết pháp luật dưới dạng thực hành xã hội nhỏ lẻ mà thôi.
Pháp luật theo con đường tự thân đó, muốn đi vào đời sống, trở thành hành vi cuộc sống sẽ vô cùng khó khăn. Để có một khái niệm tương đối hoàn thiện và đầy đủ về GDPL, thiết nghĩ, trước hết cần làm rõ khái niệm giáo dục, qua đó, tiếp cận khái niệm GDPL từ cả góc độ khoa học ngôn ngữ học, khoa học giáo dục học và khoa học pháp lý. Dưới góc độ khoa học ngôn ngữ học, giáo dục được hiểu là "(đgt) tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra" [51. Như vậy, trong hoạt động giáo dục luôn phải có yếu tố chủ thể giáo dục, là người thực hiện việc tác động lên đối tượng giáo dục.
Việc tác động đó cần hướng tới những mục tiêu cụ thể được xác định từ trước và là điều mà đối tượng được giáo dục cần đạt tới sau quá trình giáo dục. Giáo dục nói chung và GDPL nói riêng đều phải đảm bảo các yêu cầu đó. Dưới góc độ khoa học giáo dục học, giáo dục được tiếp cận theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục.
Yếu tố khách quan ở đây bao gồm chế độ xã hội, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống v.; Còn yếu tố chủ quan chính là các tác động tự giác, có chủ định và có định hướng của nhân tố con người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội. Trong hai cách tiếp cận về giáo dục theo khoa học giáo dục học nêu trên, mặc dù các nhà khoa học luôn đề cao yếu tố khách quan, tức là giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, song, vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh, được coi là có ý nghĩa quyết định chính là nhân tố chủ quan. Bởi, trong cả hai yếu tố khách quan và chủ quan thì yếu tố khách quan là nhóm yếu tố ảnh hưởng, nó có thể ảnh hưởng theo các chiều hướng tiêu cực và tích cực khác nhau, vai trò chủ động của chủ thể và đối tượng giáo dục rất mờ nhạt; còn yếu tố chủ quan là nhóm yếu tố tác động, ở đây, vai trò của chủ thể vô cùng quan trọng.
Do vậy, chúng ta thường sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp. Theo đó, GDPL với tính cách là một hoạt động có định hướng, có mục đích, cũng cần được tiếp cận dưới góc độ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục. GDPL là sự tác động có hệ thống, có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành nên ở đối tượng giáo dục những tri thức pháp lý, tạo nên niềm tin vào pháp luật, để họ có đầy đủ khả năng tham gia các quan hệ xã hội một cách phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật hiện hành. Như vậy, GDPL là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi các chủ thể nhất định, tác động lên những đối tượng nhất định, chứa đựng các nội dung và được truyển tải bằng các hình thức, phương pháp cụ thể.2- Mục đích của GDPL.
Hoạt động giáo dục nói chung, GDPL nói riêng luôn phải hướng tới những mục đích nhất định. Bởi vì đây là loại hoạt động có hệ thống, có tổ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 chức và luôn mang tính định hướng. Mục đích của GDPL là yếu tố có vai trò chi phối đến các yếu tố khác cấu thành nên hoạt động GDPL. Từ mục đích, chúng ta lựa chọn chủ thể có khả năng thực hiện việc GDPL, qua đó, xác định nội dung, hình thức, phương pháp GDPL phù hợp với đối tượng đã được xác định trước.
Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay, pháp luật được khẳng định là chiếm vị trí thượng tôn trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi con người. Pháp luật bởi vậy không chỉ là công cụ của Nhà nước, mà còn là công cụ của nhân dân1. Mọi tầng lớp nhân dân, tất cả cán bộ, công chức nhà nước đều phải có kiến thức pháp lý vững vàng, hình thành nên niềm tin vào pháp luật, vào sự nghiêm minh, công bằng, khách quan, nhân đạo của pháp luật và có thói quen xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Mục đích của GDPL vì vậy có thể khẳng định bao gồm: Thứ nhất, cung cấp tri thức pháp lý.
Tri thức nói chung, là "những điều hiểu biết có hệ thống" [51. Theo đó, tri thức pháp lý chính là sự hiểu biết một cách có hệ thống về pháp luật với tư cách là tổng thể các quy phạm hiện hành điều chỉnh hành vi con người trong xã hội. Việc cung cấp tri thức pháp lý là mục đích đầu tiên và là mục đích quan trọng nhất của GDPL, nếu mục đích này đạt được thì các mục đích tiếp theo mới có khả năng trở thành hiện thực. Con người muốn có niềm tin vào pháp luật trước hết phải có sự am tường về hệ thống pháp luật.
Từ chỗ hiểu biết, có niềm tin vào pháp luật, con người mới tạo nên cho mình khả năng tham gia các quan hệ xã hội một cách tự chủ, tự tin và phù hợp với đòi hỏi của pháp luật. Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng các quan hệ xã hội cần có sự điều chỉnh của pháp luật, với xu thế hội nhập quốc tế, gia nhập các tổ chức hợp tác nhiều lĩnh vực trên thế giới, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện 1 Quan niệm của PGS, TS Nguyễn Đăng Dung – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 hệ thống pháp luật luôn đặt ra như một thách thức với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, mục tiêu cung cấp tri thức pháp lý cho các đối tượng GDPL lại càng trở nên cần thiết và phải được chú trọng thực hiện.
Vấn đề cần lưu ý là, khối lượng tri thức pháp lý ngày càng đồ sộ và luôn có sự biến động, phần lớn các đối tượng không thể nắm bắt chúng một cách trọn vẹn. Từng nhóm đối tượng của GDPL sẽ có những nhu cầu về tri thức pháp lý khác nhau. Xác định rõ nhu cầu đó, hay nói cách khác, xác định rõ tính đặc thù của mục đích nhận thức là nhiệm vụ không thể xem nhẹ của các chủ thể GDPL. Thứ hai, tạo niềm tin vào pháp luật.
Ngoài việc cung cấp những tri thức pháp lý, hoạt động GDPL còn nhằm mục đích tạo ra những tình cảm pháp lý, hay còn gọi là niềm tin vào pháp luật. Đối tượng GDPL cần cảm nhận được những ưu việt, những giá trị xã hội của pháp luật như tính nhân đạo, sự công bằng, thước đo tính chuẩn mực của hành vi, giá trị thông tin nằm trong các quy phạm v., cần có thái độ không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật. Niềm tin pháp luật là động lực mạnh mẽ thôi thúc con người hành động đúng pháp luật. Trên thực tế, có nhiều người rất am hiểu về pháp luật, song lại không xử sự đúng yêu cầu pháp luật đặt ra, mà luôn tìm cách "lách luật".