Chương 1 Khái quát về giáo dục Mão Điền trước đổi mới 1. Tình hình chung „„Làng tôi ven con sông Đuống Bốn mùa nước chảy nên thơ Phù sa quanh năm tươi tốt Cho lúa quê mình thêm bông” (Nguyễn Thế Hiển) Những câu hát trong bài„„Mão Điền quê hương tôi” của nhạc sĩ Thế Hiển miêu tả vùng đất trù phú, tươi đẹp - xã Mão Điền. Vùng đất không chỉ ẩn chứa trong mình vẻ đẹp thiên nhiên mà còn gợi cho chúng ta chiều sâu và độ dày lịch sử.1 Địa Lý Mão Điền nằm ở phía đông bắc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, phía đông và đông nam giáp xã Lãng Ngâm ( huyện Gia Lương ), phía nam, tây nam giáp xã An Bình, phía tây - tây bắc giáp xã Song Hồ, bắc - đông bắc giáp đê sông Đuống và xã Hoài Thượng. Luy Lâu - Thuận Thành được coi là trung tâm kinh tế - xã hội đầu tiên của người Việt ở Đồng Bằng Sông Hồng.
Thuận Thành vùng đất có truyền thống hiếu học và trọng nhân tài. Nhiều tài liệu lịch sử khẳng định: Nho giáo cùng với chữ viết và nền Hán học đã được đưa vào truyền dạy đầu tiên ở nước ta tại Luy Lâu - Thuận Thành và được phát triển mạnh từ thời Sĩ Nhiếp (186-226). Tại đây có đền Lũng Khê thờ “Nam giao học tổ” (Sĩ Nhiếp được tôn thờ là vị tổ nghề học của nước Nam). Trong lịch sử gần một nghìn năm Hán học, tổng số các khoa thi của nước Đại Việt có 2889 vị đỗ Tiến sỹ, Bảng nhãn, Thám hoa và Trạng nguyên thì Trấn Kinh Bắc có gần 700 vị, trong đó Thuận Thành có hơn 50 vị đỗ đại khoa, xếp thứ 4 trong gần 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 huyện của Trấn Kinh Bắc.
Tính riêng Trạng nguyên, Kinh Bắc có 15 vị thì Thuận Thành có 4 vị đứng thứ hai sau Đông Ngàn ( huyện Từ Sơn). Đời Lý Thánh Tông, hương được thành lập - Thuỵ Mão, Mão Điền thuộc hương Siêu Loại. Năm 1447, nhà Minh chia nước ta làm mười bẩy phủ, Mão Điền, Thuỵ Mão thuộc huyện Siêu Loại, phủ Bắc Giang. Thời Lê, Nguyễn cấp tổng được thành lập, Mão Điền, Thuỵ Mão thuộc tổng Thượng Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An.
Năm 1862 huyện Siêu Loại đổi là huyện Thuận Thành. Cách mạng tháng tám 1945 thành công, cấp tổng bị bãi bỏ, Mão Điền và Thuỵ Mão thuộc huyện Thuận Thành. Năm 1946, Mão Điền và Thuỵ Mão sáp nhập thành xã Mão Điền. [ 24; 12 ] Mão Điền có 14 thôn, xóm: Xóm Nội ( Đông Phú ), xóm Công ( Đông Công ), xóm Táo ( Đông Yên ), xóm Ba ( Thịnh Phủ ), xóm Đình ( Đại Đình ), xóm Mận ( Hưng Thịnh ), xóm Hồ ( An Lãng ), xóm Tủng ( Thái Lạc), xóm Hậu ( Đức Hậu ), xóm Ngòi ( Đa Phú ), xóm Bàng ( Bàng Đức ), xóm Cả ( Cao Đại ), xóm Luỹ ( Cổng Luỹ ), và thôn Thuỵ Mão.
Diện tích đất tự nhiên xã Mão Điền khoảng 608,60 ha trong đó đất nông nghiệp là: 431,51 ha. Dân số xã tính đến năm 2006 là 13 000 người.[ 29; 4] Bình quân đất tự nhiên theo đầu người ở Móo Điền khoảng 250 mét vuông bằng 1/17 bình quân của cả nước. Như vậy, Mão Điền là vùng đất chật, người đông. Mão Điền xưa có con sông Gáo chảy qua theo hướng Tây - Đông.
Trải qua năm tháng, đến nay sông Gáo đã bị lấp đầy, chỉ còn một số dấu tích, tên gọi khác nhau như: ao Ngăm, ao Cam, ao Dạng. Phía Bắc, Mão Điền tiếp giáp với sông Đuống: Con sông thi ca nhạc hoạ, khơi nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho các nghệ sĩ, con sông mang đến nguồn phù sa mầu mỡ, nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Lịch sử hình thành Năm 1010 có những sự kiện trọng đại: Đối với quốc gia, đó là năm dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long:„„ Nơi tụ hội của bốn phương đất nước, nơi tượng trưng của muôn đời đế vương”.[33; 247] Đối với Mão Điền đó là năm lập làng. Tháng hai, mùa xuân năm 1010, xa giá nhà vua đến Châu Cổ Pháp yết lăng Thái Hậu, vua sai các quan đo đất vài mươi dặm đặt làm Cấm địa sơn lăng„„ Đình Bảng là đất thang mộc của các vua nhà Lý, ruộng sơn lăng được đặt ra nhằm lấy thu hoạch chi phí vào việc thờ cúng tổ tiên các họ vua.
Căn cứ vào nguồn sử liệu thực địa, có thể thấy ruộng sơn lăng gồm hai phần: Một khu ruộng mộ và một khu ruộng thờ. Các vua nhà Lý đều được chôn cất ở địa phận lăng cổ pháp này, do đó ở đây có 32 mẫu ruộng mộ ( mỗi lăng bốn mẫu ) và một số ruộng thờ khá lớn. Theo các bia cổ Pháp điện tạo bi khắc năm Hoàng Định thứ tư (1604) và Đình Bảng điện bi khắc năm Hoàng Định thứ năm (1605) dựng ở giữa khu cấm địa Đền Đô thì „„do bọn cường hào xâm lấn, ngăn cản nên từ lâu khu lăng miếu bị bỏ hoang rậm”. Nay chúa Trịnh Tùng cho phép lấy 284 mẫu của xã làm ruộng thờ Đền Đô như cũ.
Làm một phép cộng đơn giản số ruộng mộ với số ruộng thờ, ta được tổng diện tích khu Cấm địa sơn lăng là 316 mẫu Bắc bộ. Đây là số ruộng thực có theo văn bia ở thế kỷ XVII, nghĩa là sau gần 600 năm kể từ khi Lý Công Uẩn cắm đất làm Cấm địa sơn lăng, chắc chắn số ruộng đất buổi đầu nhà Lý trực tiếp quản lý này nếu không nhiều hơn thì cũng không ít hơn số ruộng mà Trịnh Tùng lấy ra trả lại cho việc thờ cúng đền Đô sau này”.[ 19; 231 ] Với số ruộng đất lớn như vậy bị chính quyền nhà Lý trưng dụng, buộc một số dân ở Đình Bảng phải dời bỏ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nơi chôn rau cắt rốn để ra đi. Đó là nguyên nhân thành lập làng Xuân Lai và làng Mão Điền. Truyền thuyết làng Thuỵ Mão kể rằng: Xưa kia địa dư làng rất rộng„„ hượng chí Thiên Đức Giang, hạ chí Bình Ngô Xã”.
Nghĩa là bao gồm toàn bộ vùng đất từ bờ sông Đuống, qua Mão Điền xuống tận xã An Bình. Mão Điền là tên gọi làng mới do những người di cư từ Đình Bảng tới lập nên. Mão là Thuỵ Mão, điền là ruộng. Mão Điền nằm trên ruộng làng Thuỵ Mão.
Đây là vùng đất trũng, chưa khai phá, đất đai thuận lợi cho trồng cây lúa nước. Dân cư không đến nỗi thưa thớt vắng vẻ, vị trí không quá hẻo lánh, là vùng đất lý tưởng cho việc định canh, định cư thủa ấy. Người Đình Bảng họ tin rằng mình ở trên mảnh đất hình con nhện. Đó là huyệt đất quý, phát tích đế vương.
Phải dời làng ra đi, họ cũng muốn có hình đồ phong thuỷ tương đương như vậy hoặc chí ít cũng được an cư lạc nghiệp. Vùng đất Mão Điền đáp ứng phần nào đòi hỏi đó. Theo các bậc cố lão, Mão Điền có thế rồng nằm: Con rồng nằm dài từ đầu làng ( xóm Bàng) đến cuối làng ( xóm Nội ), đầu rồng hướng về phía Bắc, mắt rồng là giếng Cả, miệng rồng là giếng Ngòi, rốn rồng là giếng Chùa, đuôi rồng là giếng Nội. Giếng mắt rồng nước trong leo lẻo.
Giếng miệng rồng và rốn rồng quanh năm không bao giờ cạn nước. Còn giếng đuôi rồng lúc nào cũng vùng vẫy nên lúc nào cũng đục ngàu. Ngoài dải đất kể trên, phía trong làng không được đào giếng, hoặc giả có đào thì chỉ được nước vàng khè và tanh lợm. Người ta bảo đó là máu thân rồng chảy ra.
Theo con mắt của người xưa, thế đất của Mão Điền đủ tiêu chuẩn để gọi:„„sơn thuỷ hữu tình”. Dĩ nhiên địa linh thì vế đối phải là nhân kiệt.2 Lịch sử đấu tranh Từ khi lập làng tới nay, nhân dân Mão Điền không ngừng tham gia đấu tranh chống các thế lực nhằm giữ làng, giữ nước. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1285, giặc Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến hành xâm lược nước ta lần hai. Trước tình hình đó, nhà Trần đã hiệu triệu toàn thể nhân dân đứng lên kháng chiến chống quân Nguyên:„„Tất cả các quận, huyện trong cả nước nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh.
Nếu sức không địch nổi, cho phép lẩn tránh vào rừng núi không được đầu hàng” [33; 202 ]. Thi hành mệnh lệnh triều đình, nhân dân cả nước trong đó có nhân dân Mão Điền đã tích cực luyện tập võ nghệ, ngày đêm sẵn sàng đánh giặc bảo vệ xóm làng. Thời Lê - Trịnh, chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra liên miên, đời sống của nhân dân trong vùng đói khổ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân khắp vùng Kinh Bắc nổ ra. Đầu năm 1740, Nguyễn Tuyền từ Hinh Xá, Chí Linh, Hải Dương tập hợp nghĩa quân nổi dậy chống lại triều đình.
Phong trào lan rộng khắp vùng Gia Định, Siêu Loại. Một số người dân ở Mão Điền đi theo nghĩa quân, giao chiến với quân Chúa Trịnh tại cánh đồng xã Bình Ngô ( nay là xã An Bình). [ 23; 40 ] Những năm cuối thế kỷ XIX, người anh hùng nông dân áo vải Hoàng Hoa Thám lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp, địa bàn cuộc khởi nghĩa ngày càng mở rộng, nhân dân Mão Điền tham gia khởi nghĩa ngày một nhiều. Tiêu biểu cho tấm gương đó là cụ Nguyễn Duy Thứ, làm chánh tổng, tổng Thượng Mão.
Cụ đã bí mật thư từ với Hoàng Hoa Thám, chuyển cá giống lên Yên Thế để nuôi nhằm tăng thêm lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân. Cụ bị thực dân Pháp bắt và đầy đi Sơn La, cụ đã mất ở đó. [ 23; 42 ] Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân dân Mão Điền anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, phát xít Nhật. Đầu năm 1945, tại Mão Điền, đồng chí Vương Văn Trà, Đặng Trần Huy, Xuyên Quảng đã về tuyên truyền, giác ngộ cho một số thanh niên yêu nước như ông: Vũ Đăng Hương ( tức tổng Hương ), Vũ Đăng Bảng ( phó bảng )…Sau khi được giác ngộ, những cá nhân đó đã tuyên truyền, lãnh đạo nhân dân chống bắt phu, bắt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lính, chống chính sách nhổ lúa trồng đay của Nhật.
Khi Nhật đầu hàng đồng minh, mặt trận Việt Minh chỉ đạo các đội tự vệ các xã đứng lên giành chính quyền. Nhân dân Mão Điền cùng nhân dân trong toàn huyện tạo thành đội ngũ trùng trùng điệp điệp tiến về giải phóng tỉnh lỵ. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Bắc Ninh được giải phóng.