phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm 2 chƣơng : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2 : Một số biện pháp giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX) Lớp 10 THPT. 9 z CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm Nhân cách Khi định nghĩa về nhân cách, một số nhà tâm lý học đƣa ra quan điểm nhƣ sau: Theo nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng X.Rubinstein: “ Con ngƣời là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con ngƣời là nhân cách do nó xác định của mình với những xung quanh một cách có ý thức”.Covaliov: Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định.Sôrôkhôva: Nhân cách là con ngƣời với tƣ cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội.Mukhina: Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội. Từ những điều đã phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con ngƣời. Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý mới.Nói cách khác, nhân cách là tổng hợp những đặc điểm tâm lý đặc trƣng với một cơ cấu xác định. Do đó, không phải con ngƣời sinh ra là đã có nhân cách.
Nhân cách đƣợc hình thành dần dần trong quá trình con ngƣời tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại diện.Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lƣợng mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời từ những chuyện bình thƣờng, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con ngƣời đối với ngƣời khác cũng nhƣ đối với sự việc trong cuộc 10 z sống. Đồng thời, nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con ngƣời.
Con ngƣời là một thực thể xã hội, vì vậy chất lƣợng mối quan hệ xã hội có ảnh hƣởng quyết định đối với chất lƣợng cuộc sống. Nhân cách đƣợc định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con ngƣời xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là đặc trƣng của từng cá nhân, là bản chất thực của con ngƣời.Phía trƣớc mọi ngƣời, trong cuộc đời, luôn có nhiều con đƣờng. Ngƣời thiếu nhân cách sẽ mất phƣơng hƣớng khi chọn con đƣờng chính đáng cho mình.Khái niệm Giáo dục Theo quan điểm Macxit về Giáo dục: Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là một bộ phận của thƣợng tầng kiến trúc.
Cũng nhƣ tôn giáo, đạo đức, pháp quyền, trong xã hội giai cấp, giáo dục bao giờcũng mang tính giai cấp, giáo dục luôn luôn là công cụ của giai cấp thống trị xã hội “giai cấp nào thống trị tƣ liệu sản xuất vật chất thì cũng chiếm đoạt phƣơng tiện sản xuất tinhthần” chỉ có thể xây dựng một nền giáo dục của giai cấp vô sản khi giai cấp đó giànhđƣợc quyền thống trị xã hội. Theo John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục ngƣời Mỹ, cá nhân con ngƣời không bao giờ vƣợt qua đƣợc quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con ngƣời phải vƣợt qua đƣợc sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội.Giáo dục là “khả năng” của loài ngƣời để đảm bảo tồn tại xã hội. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhƣng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy.
Nhƣ vậy,theo quan điểm của John Dewey cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhƣng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục là dạy dỗ. 11 z Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh "Educare"có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ranhững khả năng tiềm ẩn của ngƣời đƣợc giáo dục". Từ những định nghĩa trên, theo chúng tôi: Giáo dục là quá trình đƣợc tổ chức có ý thức, hƣớng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổinhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của ngƣời dạy và ngƣời học theo hƣớng tích cực.Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách ngƣời học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngƣời trong xã hội đƣơng đại.Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh.
Nhƣ vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; ngƣời giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trƣớc, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài ngƣời mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài ngƣời, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm vào mục đích phát triển con ngƣời và phát triển xã hội. Giáo dục còn đƣợc hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định đƣợc tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phƣơng pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trƣờng) nhằm phát triển toàn diện nhân cách. Qua những môn học trên trƣờng, lớp cũng nhƣ qua những hoạt động nhƣ báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… đƣợc tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hƣởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của ngƣời đƣợc giáo dục, dƣới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục.
Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách: Theo quan điểm của tâm lý học Mácxít, trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo.Biểu hiện ở những điểm sau: 12 z - Thứ nhất, giáo dục vạch ra phƣơng hƣớng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì giáo dục là một quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành một mẫu ngƣời cụ thể cho xã hội, một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứng những yêu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Điều đó đƣợc thể hiện qua việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của nhà trƣờng và các tổ chức giáo dục ngoài nhà trƣờng. Giáo dục bao giờ cũng căn cứ vào mục đích, yêu cầu của xã hội, căn cứ vào trình độ phát triển của khoa học kĩ thuật, để xây dựng nên mục đích giáo dục, kế hoạch, nội dung, chƣơng trình giáo dục,…từ đó tác động đến thế hệ trẻ, điều khiển thế hệ trẻ, tạo dựng con đƣờng “an toàn” cho thế hệ trẻ, hoàn thiện nhân cách đáp ứng yêu cầu xã hội.
- Thứ hai, thông qua giáo dục, thế hệ trƣớc truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội - lịch sử đã đƣợc kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của nhân loại.Thế hệ trẻ lĩnh hội những kinh nghiệmđó đển biến chúng thành kinh nghiệm của bản thân và tạo nên nhân cách của mình. - Thứ ba, giáo dục có thể đem lại cho con ngƣời những cái mà các yếu tố bẩm sinh - di truyền hay môi trƣờng tự nhiên không thể đem lại đƣợc. - Thứ tư, giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách nhƣ các yếu tố sinh thể (bẩm sinh di truyển), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội. - Thứ năm, giáo dục có thể bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh - di truyền không bình thƣờng, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên - Thứ sáu, giáo dục uốn nắn những sai lệch của nhân cách về một mặt nào đó so với các chuẩn mực, do tác động tự phát của môi trƣờng gây nên và làm cho nó phát triển theo hƣớng mong muốn của xã hội.
- Thứ bảy, giáo dục có thể đi trƣớc, đón đầu sự phát triển, giáo dục có thể “hoạch định nhân cách trong tƣơng lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nhƣ vậy, giáo dục không chỉ tính đến trình độ 13 z hiện tại của sự phát triển nhân cách mà còn tính đến bƣớc phát triển tiếp theo của nhân cách. Từ những điều nêu trên có thể nhận thấy, không thể có sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em mà không thông qua dạy học, giáo dục. Giáo dục giữ vai trò chủ dạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục.
Giáo dục không phải là vạn năng, bởi vì giáo dục chỉ vạch ra phƣơng hƣớng cho sự hình thành và phát triển nhân cách và thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển nhân cách theo hƣớng đó. Còn cá nhân có phát triển theo hƣớng đó hay không và phát triển đến trình độ nào thì giáo dục không quyết định trực tiếp đƣợc, mà cái quyết định trực tiếp chính là hoạt động và giao tiếp của mỗi cá nhân.Do đó, cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt động, tổ chức quan hệ giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các quan hệ xã hội, quan hệ nhóm và tập thể.