phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 GIÁO DỤC LÝ TƢỞNG VÌ MỤC TIÊU “DÂN GIÀU NƯỚC MẠNH” CHO THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lý tưởng a) Khái niệm về lý tưởng Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều trường phái, học thuyết đưa ra khái niệm lý tưởng. Ngay từ thời kỳ c đại, các triết học ở phương Đông và Phương Tây đã đưa ra những quan niệm, tư tưởng về lý tưởng của con người.
Theo từ điển tiếng Việt, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta phải phấn đấu để đạt tới. Lý tưởng là khái niệm được các nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở đây, chúng ta tiếp cận vấn đề dưới góc độ triết học và tâm lý - giáo dục học. Theo từ điển Triết học, lý tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách đặc thù vào ý thức con người hoặc một nhóm xã hội nào đó dưới dạng một mô hình, hình mẫu hoàn thiện.
Bởi vậy, nội dung của lý tưởng được quy định bởi các quan hệ xã hội thống trị và những đặc điểm tinh thần, tâm lý của nhân cách. Dưới góc độ tâm lý học, lý tưởng được xem xét là một bộ phận hợp thành quan trọng của xu hướng nhân cách cùng với nhu cầu, hứng thú, thế giới quan và niềm tin…Vì thế, lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp của hình ảnh mẫu mực tương đối hoàn chỉnh có sức lôi cuốn con người vươn tới nó. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Tính chất của lý tưởng Lý tưởng vừa có tính hiện thực, vừa có tính lãng mạn. Hình ảnh lý tưởng được xây dựng từ những chất liệu vốn có trong hiện thực.
Đó là tính hiện thực của lý tưởng. Đồng thời, lý tưởng còn có tính lãng mạn. Bởi vì, mục tiêu của nó là cái gì đó có thể đạt được trong tương lai. Trong một chừng mực nào đó, nó đi trước cuộc sống và phản ánh xu thế phát triển hợp quy luật của con người, nhóm xã hội, toàn xã hội.
Có thể nói, tại một thời điểm xác định, con người chỉ có khả năng tiếp cận tới lý tưởng (cũng như tiếp cận tới chân lý) chứ không thể đạt tới một cách tuyệt đối. Lý tưởng còn mang tính xã hội do chỗ con người không ai có thể vượt qua khỏi thời đại của mình. Hoạt động của họ diễn ra trong những điều kiện cụ thể của một xã hội cụ thể. Sống và lao động trong xã hội đó, họ thường xuyên phân tích, đánh giá, chọn lọc và khái quát hoá thực tại để đi đến xây dựng cho bản thân mình một hình ảnh hoàn hảo, mẫu mực làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.
Mặc dù, lý tưởng là một bộ phận cấu thành của ý thức con người nhưng sự tồn tại của nó đối với mỗi con người là một hiện tượng khách quan. Đối với mỗi con người cụ thể, các hình mẫu hoàn thiện là có thể khác nhau nhưng đã là con người thì ai cũng phải có lý tưởng riêng của mình. Lý tưởng vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa là động lực thôi thúc con người hành động. Sức hấp dẫn của nó rất khó diễn tả.
Có người đã sử dụng thuật ngữ "say lý tưởng". Nếu thiếu lý tưởng, con người sẽ cảm thấy mất phương hướng, cuộc đời trở nên vô vị, nhạt nhẽo. Chính lý tưởng khơi dậy sự nỗ lực nhận thức, sự nồng nhiệt tình cảm, quyết tâm của ý chí và quyết tâm trong hành động, giúp con người vươn tới mục tiêu cao cả nào đó, bất chấp gian kh hy sinh. Như vậy, trong lý tưởng đã có sự thống nhất giữa tình cảm, ý chí, hành động.
Nhờ đó, nó vừa có tác dụng như chiếc đèn định hướng, vừa như một động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động một cách sáng tạo và có kết quả để đạt tới mục đích mà mình đã ấp ủ, lựa chọn, tôn thờ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, thực chất của lý tưởng là phạm trù của ý thức xã hội, phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng một mô hình, một hình mẫu hoàn thiện, vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động. Lý tưởng được tạo nên bởi sự kết hợp cao độ giữa nhận thức sâu sắc, tình cảm mãnh liệt, ý chí kiên cường của mỗi con người. Lý tưởng quyết định thái độ lựa chọn của mỗi con người đối với hiện thực khách quan.
c) Phân loại lý tưởng Xét về mặt cấu trúc, người ta chia lý tưởng theo các cách khác nhau, nhưng thông thường, người ta chia theo các cách sau: Cách thứ nhất, lý tưởng bao gồm lý tưởng xã hội và lý tưởng cá nhân. Theo các tác giả đề tài "Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên", lý tưởng cách mạng được hiểu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Theo đó, ta thấy, nếu như trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lý tưởng của thanh niên là "không có gì quý hơn độc lập tự do" và hướng tới một xã hội ấm no hạnh phúc, thì ngày nay, lý tưởng ấy được cụ thể hoá là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới góc độ lý tưởng cá nhân, chúng ta có thể hiểu đó chính là mô hình nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trong những con người đó có sự thống nhất giữa đạo đức cách mạng và tri thức cách mạng. Họ vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của quá trình xây dựng xã hội mới. Nói một cách khái quát đó là "con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức". Dưới góc độ khác, người ta phân loại lý tưởng thành bốn loại: lý tưởng chính trị xã hội, lý tưởng đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp và lý tưởng thẩm mỹ.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lý tưởng chính trị xã hội là những quan điểm về một xã hội có t chức cao nhất của những người lao động tự do bình đẳng và tự giác, của những người làm chủ bản thân, tự nhiên và xã hội. Lý tưởng đạo đức là hình ảnh về một nhân cách hoàn thiện với những phẩm chất cao quý nhất như: Chủ nghĩa tập thể, tinh thần tương trợ đồng chí, chủ nghĩa quốc tế, lòng yêu nước, ý thức cao cả về nghĩa vụ xã hội, lòng chân thật, tính khiêm tốn…. Lý tưởng nghề nghiệp là hướng tới nghề nghiệp hoàn toàn phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân, được xã hội coi trọng, có lợi cho bản thân, gia đình và xã hội. Lý tưởng thẩm mỹ là những quan điểm về cái đẹp, cái hoàn thiện mà cơ sở của nó là những tư tưởng của sự phát triển toàn diện những năng lực sáng tạo của mỗi con người, là sự kết hợp hài hoà giữa sự phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức, thể chất.
d) Lý tưởng có các chức năng sau đây Thứ nhất, với tư cách là "hình chiếu tinh thần" của hiện tại vào tương lai, lý tưởng quyết định những mục tiêu mà mỗi người đặt ra cho mình; Lý tưởng xác định mục tiêu và chiều hướng phát triển của cá nhân. Mục tiêu của lý tưởng chính là mục đích cuộc sống của cá nhân, là mục đích mà cá nhân phải đi tới trong tương lai. Thứ hai, khi được xét như là quan niệm về cái hoàn thiện được hình thành trong mỗi cá nhân thì lý tưởng được xem như là tiêu chuẩn, là thước đo để cá nhân có thể tự đánh giá bản thân mình. Thứ ba, lý tưởng không chỉ là một hiện tượng của ý thức thuần tuý mà trở thành một động lực thực sự của hoạt động tinh thần và hoạt động thực tiễn cụ thể của con người hướng tới việc hiện thực hoá lý tưởng đó.
Sự thôi thúc của nhận thức, tình cảm trong lý tưởng làm cho con người có được sức mạnh 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vượt qua được mọi khó khăn, trở ngại, tham gia vào hoạt động để đạt được mục tiêu lý tưởng. Lý tưởng trực tiếp chi phối sự hình thành và phát triển tâm lý của cá nhân, nó được giữ vai trò lớn trong quá trình tự giáo dục của cá nhân. Bởi vì, lý tưởng đã chứa đựng tính chân lý khách quan trong bản thân nó. Khái niệm thanh niên Thanh niên là một khái niệm được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Nó là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Tuỳ theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học công bố vào năm 2003 (in lần thứ 9, có sửa đ i, b sung) thì mục từ Thanh niên được giải thích như sau: “Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [64, tr.913] Trong tiếng Anh, bộ từ điển Oxford giải thích mục từ youth (thanh niên) như sau:“Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa tuổi thơ ấu và tuổi người lớn, hăng hái, nhiệt tình hoặc thiếu kinh nghiệm hoặc chỉ những đặc trưng khác của độ tuổi này. Khi được dùng ở dạng số nhiều thì từ này chỉ tập hợp những người trẻ tuổi”[1, tr.877] Theo Chiến lược phát triển Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TTg ngày 29-4- 2003 thì thanh niên nước ta được cho là những công dân Việt Nam có độ tu i từ 15 đến 34.
Chỉ hai năm sau, Luật Thanh niên (Luật số 53/2003/QH11) được Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định tại Điều 1: Thanh niên quy định trong luật này là công dân iệt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Đây cũng là điều được ghi nhận trong, Điều 1, mục 2 của Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007). Qua đó cho có thể thấy trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất về thanh niên Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này cũng không được quy định nhất quán. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.