Chương I. Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng sông cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiêu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành phó Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÍ LUẬN CUA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SONG CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ thế ky XX, nhiều nhà giáo dục tại các nước phát triển đã nhận thay rang con người ngày càng cần trang bị những kĩ năng phù hợp dé ứng phó, thích nghi với sự thay đôi của môi trường sống.
Vì vậy, việc giáo duc cho HS các KNS đó là một van đề cần đặc biệt quan tâm. Vào những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa ra bởi các nhà tâm lí học thực hành, xem KNS là một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. GDKNS giúp HS hình thành và phát huy khả năng giao lưu với thế giới xung quanh, khả năng xã hội và ứng phó với điều kiện sống thay đổi nhanh chóng, khả năng lựa chọn và ra quyết định khi cần thiết. Đến những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ KNS thường xuyên xuất hiện trong một loạt chương trình giáo dục của Quy cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc — UNICEF.
Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này hướng đến thống nhất quan niệm chung về KNS và đưa ra danh mục KNS cơ bản cần có. Đó là nền tảng dé các Tổ chức Y tế thế giới - WHO, UNICEF, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc - UNESCO cùng nhau xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên. Những KNS này hỗ trợ cho trẻ em và thanh thiếu niên khi đối mặt với những thử thách trong cuộc sống đắc lực hơn những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán. Sang thé ki XXI, trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người hop tại Senegal năm 2000, kế hoạch hành động Dakar đã dé ra 6 mục tiêu, trong đó, có đến 2 mục tiêu yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp và việc đánh giá chất lượng giáo dục phải hàm chứa cả KNS của người học.
Hay nói cách khác, kĩ năng của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Điều này đưa GDKNS cho người học lên vi trí như là một nhiệm vụ quan trọng bậc nhat trong sô những nhiệm vụ giáo dục của một quôc gia. Một trong những dự án trọng yếu nhằm vào nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến KNS là dự án ở 5 nước Đông Nam A do tổ chức UNESCO tiến hành. Kết quả của dự án phản ánh các nhận thức, quan niệm về KNS mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng.
Dự án này chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 nhằm xác định quan niệm của mỗi quốc gia về KNS. Việt Nam cũng tham gia qua ấn pham “Life skills Mappingain Việt Nam” trong khuôn khổ hợp tác giữa UNESCO với Viện Chiến lược và chương trình giáo dục. Giai đoạn 2 tập trung đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra [16, tr.
Tính đến nay, thế giới đã có nhiều công trình, dự án nghiên cứu về KNS và GDKNS. Các nghiên cứu này nêu lên khá rõ về vai trò, khái niệm, phân loại, nguyên tắc, lí thuyết làm nền tảng cơ sở cho việc tiếp cận vấn đề này. Bốn trụ cột về giáo dục mà UNESCO đã đưa ra trong thời gian gần đây: “Học dé biết, học dé làm, học để tự khang định mình và hoc dé cùng chung sống” thực chat cũng chính là một cách tiếp cận KNS. Từ đó, các quốc gia từng bước nghiên cứu và đưa KNS vào chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa, chang hạn: - Tại Mỹ Latinh, năm 1996, hội thảo về KNS được tổ chức tai Costa Rica nhằm đây mạnh giáo dục sức khoẻ thông qua GDKNS trong các trường học.
- Tại vung Caribe, các cơ quan Liên Hiệp Quốc phối hợp với Đại học Tây Ấn, Bộ giáo dục và Bộ Y tế đã đưa KNS vào các bậc học Mẫu giáo, TH và Trung học qua giáo dục sức khoẻ và cuộc sống gia đình. - Tại Botswana và Nam Phi, bắt đầu từ năm 1996, được sự hỗ trợ bởi Trung tâm Chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình “Growing Up” (1996 — 1999) được ra đời nhằm thực hiện GDKNS cho một số trường TH ở khu vực này. - Tại khu vực Đông Nam A, đối tượng và phạm vi nghiên cứu GDKNS cũng đa dạng ở nhiều lứa tuổi HS, mở rộng trong nhiều hoạt động giáo dục, chăng hạn: + Ở Thái Lan, năm 1996, GDKNS được triển khai cùng chương trình ngăn chặn AIDS. Chương trình được thực hiện ở cả ba bậc học phô thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khoá.
10 + Ở Indonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp TH. Nội dung GDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khoẻ mạnh; GDKNS cho phòng chống HIV/AIDS. + Ở Philippin, KNS bắt đầu được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản từ năm 2001. Nước này còn triển khai GDKNS trong quân sự, lồng ghép đưa KNS cốt lõi vào giảng dạy.
+ Ở Lào, năm 1998, nghiên cứu về KNS bắt đầu phát triển với các nội dung cơ bản như phòng chống HIV/AIDS; phòng chống ma tuý và sử dụng rượu, thuốc lá;. được đưa vào chương trình giảng dạy của môn học Thế giới xung quanh ta ở TH. + Ở Myanmar, năm 1998, dự án “Chương trình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chống HIV/AIDS dựa vào trường học” được bắt đầu. Dự án này là sự hợp tác giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưa KNS vào trong giáo dục dé thúc đây lối sống lành mạnh và ngăn ngừa lây nhiễm HIV.
+0 Campuchia, năm 2001, chương trình GDKNS duoc phat triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ giáo dục, thanh niên và thé thao. Chương trình này là một phần của kế hoạch quốc gia “giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chính khoá và ngoại khoá trong cả hai cấp học: TH và Trung học [15, tr. Tóm lại, hệ thống các nghiên cứu ở nước ngoài cho phép hình dung khái quát quá trình phát triển vấn đề KNS và hoạt động GDKNS. Trải qua các giai đoạn, GDKNS cho HS trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu, đã và đang được nhiều quốc gia thực hiện rộng rãi, được xem như xu thế chung của hầu hết các nền giáo dục trên toàn thế giới.
Quan niệm, nội dung, cách tiến hành GDKNS ở từng nước vừa có điểm chung, vừa có điểm đặc thù. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GDKNS nên những nghiên cứu lí luận về van dé này mặc dù khá phong phú, song chưa thật sự sâu sắc. Các nghiên cứu ở trong nước Từ lâu, KNS và GDKNS đã tồn tại trong đời sống người Việt Nam nhưng chưa có thuật ngữ chính thức để gọi tên vấn đề này. Các bài học kĩ năng được người xưa đúc kết, truyền dạy cho con cháu qua những câu thành ngữ, tục ngữ, những bài ca dao.
Chăng hạn, thành ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở” mang hàm ý dé cao 11 những ki năng gan gũi, gắn bó mật thiết với sinh hoạt hằng ngày, những kĩ năng mang tính chất kinh nghiệm đơn giản nhất dé ứng phó với thiên nhiên, dé ứng xử với con người. Quan tâm đến việc giáo dục con người, bao hàm cả giáo dục kĩ năng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” ở đây có thể hiểu là phải xem trọng giáo dục kĩ năng, nhân cách con người, trong đó, KNS là cốt lõi để hình thành thái độ, hành vi của người học, hơn là thiên lệch về dạy kiến thức. Vào những năm 1995 — 1996, thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các trường phổ thông Việt Nam, thé hiện trong dự án “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do UNICEF phối hop với Bộ GD&DT, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tiến hành.
Trong dự án này, UNICEF đã giới thiệu tại Việt Nam các KNS cốt lõi như kĩ năng tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiên định và thiết lập mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe. Trong giai đoạn đầu, GDKNS chỉ gói gọn trong giáo dục các vấn đề thực tế xã hội như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường. Bước sang giai đoạn 2, dự án này phát triển với tên gọi “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. Ngoài Bộ GD&DT, chương trình còn có thêm 2 tô chức chính trị xã hội khác cùng tham gia là Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.HCM, hai đơn vị tiên phong là Nhà Bè và Hóc Môn đã tham gia thể nghiệm thông qua sinh hoạt ngoại khóa tại các trường phổ thông.
Chương trình giúp HS rèn luyện một số KNS thiết thực dé giải quyết những van đề trong cuộc sống. Trải qua các giai đoạn thực hiện chương trình, khái niệm và nội dung của KNS và GDKNS dần được mở rộng và hoàn thiện hơn. Năm 2003, hội thảo “Chat lượng giáo dục và KNS” do UNESCO phối hợp với Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức vào ngày 23 đến 25 tháng 10 tại Hà Nội đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm KNS. Phương hướng tiếp cận dựa trên bốn trụ cột: “Học dé biết, học dé làm, hoc dé cùng chung sống, học dé tự khẳng định mình” và KNS được xem như là năng lực cá nhân dé thực hiện đầy đủ các chức năng 12 tham gia vào cuộc sống hàng ngày.