Chương 1 ✦ Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. ✦ Lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, phương pháp nghiên cứu. Chương 2 ✦ Cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan. ✦ Các mô hình nghiên cứu liên quan.
✦ Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3 ✦ Thiết kế phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng. ✦ Xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi ban đầu. ✦ Hiệu chỉnh bảng câu hỏi.
SVTH: Nguyễn Nguyên Vũ 5 Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Trương Ngọc Anh Vũ CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này bao gồm hai phần chính: Phần đầu tiên là trình bày cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan. Phần thứ hai của chương trình bày các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan, từ đó đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho đề tài.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurship Education) Một kết quả nghiên cứu về giáo dục (Hansemark, 1998) cho rằng giáo dục truyền thống chỉ được đánh dấu là sự chuyển đổi kiến thức và khả năng, trong khi ngược lại, giáo dục khởi nghiệp được coi là mô hình để thay đổi thái độ và động cơ. Giáo dục khởi nghiệp tìm cách đề xuất mọi người, đặc biệt là những người trẻ tuổi, có trách nhiệm cũng như những cá nhân dám nghĩ dám làm đã trở thành doanh nhân hoặc những người có tư tưởng kinh doanh đóng góp cho sự phát triển kinh tế và cộng đồng bền vững.
Giáo dục khởi nghiệp là toàn bộ hoạt động giáo dục với mục tiêu cuối cùng là phát triển ý định khởi nghiệp của sinh viên (Li & Wu, 2019). Giáo dục khởi nghiệp giúp sinh viên nâng cao nhận thức và kỹ năng khởi nghiệp, đồng thời cung cấp cho sinh viên những nghề nghiệp thay thế với tư cách là doanh nhân (Ratten & Jones, 2020; Jena, 2020). Ngoài ra, nhóm nhà nghiên cứu (Viaz & Rivera-Cruz, 2020) đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm giáo dục khởi nghiệp như một hoạt động dạy và học có thể xác định thái độ khởi nghiệp của sinh như quyền tự chủ, sáng tạo, đổi mới hoặc chấp nhận rủi ro và sáng tạo trong kinh doanh. Trong khi đó, giáo dục khởi nghiệp có thể nâng cao khả năng quản lý của sinh viên để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh (Wu & Wu, 2008).
Mô hình giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học trang bị cho sinh viên những kỹ năng để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tài liệu giảng dạy khởi nghiệp. Điều này ngụ ý rằng giáo dục khởi nghiệp có mối tương quan chặt chẽ với ý định khởi nghiệp (Hassi, 2016; Khalifa & Dhiaf, 2016). Hiệp hội Giáo dục Khởi nghiệp (2008) tuyên bố rằng giáo dục khởi nghiệp không chỉ là dạy ai đó điều hành một doanh nghiệp. Đó cũng là về việc khuyến khích tư duy sáng tạo SVTH: Nguyễn Nguyên Vũ 6 Báo cáo thực tập GVHD: ThS.
Trương Ngọc Anh Vũ và thúc đẩy ý thức mạnh mẽ về giá trị bản thân và trao quyền. Thông qua giáo dục khởi nghiệp, sinh viên học cách tạo ra doanh nghiệp, nhưng họ cũng học được nhiều điều hơn nữa. Kiến thức cốt lõi được tạo ra thông qua giáo dục khởi nghiệp bao gồm: Khả năng nhận ra các cơ hội trong cuộc sống của một người; Khả năng theo đuổi các cơ hội, bằng cách tạo ra những ý tưởng mới và tìm thấy các nguồn lực cần thiết; Khả năng thành lập và vận hành một công ty mới; Khả năng suy nghĩ một cách sáng tạo. Vì vậy, bên cạnh kiến thức và kỹ năng kinh doanh, giáo dục khởi nghiệp chủ yếu là phát triển niềm tin, giá trị và thái độ nhất định, với mục đích giúp sinh viên thực sự coi khởi nghiệp là một giải pháp thay thế hấp dẫn cho việc làm được trả lương hoặc thất nghiệp (Holmgren & cộng sự, 2004; Sanchez, 2010).
Giáo dục khởi nghiệp nhằm tạo cơ hội tìm hiểu về các điều kiện thuận lợi cho việc thành lập doanh nghiệp mới, cũng như các lý thuyết khác nhau liên quan đến loại đặc điểm cần thiết để khởi nghiệp thành công.2 Nhận thức năng lực bản thân (Self -awareness of capacity) Khái niệm về năng lực bản thân được xây dựng từ lý thuyết nhận thức xã hội của (Bandura, 1977) và được phát triển bởi Bandura (Bandura, 2012), chứng minh rằng trong hành vi cá nhân được tạo ra bởi một số hoạt động, chẳng hạn như sự tương tác giữa các cá nhân, sự tham gia của các cá nhân và hoàn cảnh. Sự tương tác giữa những vấn đề này có thể hình thành niềm tin của một cá nhân trong việc bao gồm khả năng thực hiện một số hành vi nhất định trong những tình huống nhất định và kỳ vọng của họ về kết quả hành vi (Pihie & Bagheri, 2013). Bên cạnh đó, dưới góc nhìn của Bandura, ông cho rằng năng lực bản thân là niềm tin về kỹ năng và năng lực của một cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể (Bandura, 1986). Năng lực bản thân ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn hành động của con người bất kể sự tồn tại của các lựa chọn thay thế, mức độ nỗ lực họ bỏ ra để thực hiện hành động, sự kiên trì của họ khi đối mặt với trở ngại và cơ hội hành động (Pihie & Bagheri, 2013; Shane, 2004).
Đứng dưới góc độ kinh doanh, năng lực bản thân được chỉ ra rằng như một quá trình nhận thức xã hội có thể giải thích quan hệ nhân quả giữa nhận thức và cá nhân dưới dạng thái độ kinh doanh (Bandura, 1986). Zhao là học giả đầu tiên kiểm tra chuỗi quan hệ nhân quả tập trung vào năng lực bản thân và tiến trình kinh doanh đã đưa ra kết luận rằng năng lực bản thân như một biến số ảnh hưởng đến hành vi cá nhân, được xác định SVTH: Nguyễn Nguyên Vũ 7 Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Trương Ngọc Anh Vũ là một quá trình nhận thức xã hội, có thể giải thích tác động của kiến thức và hành động của các cá nhân dưới dạng thái độ đối với tinh thần kinh doanh (Zhao & cộng sự, 2005). Chính vì thế, mức độ tự tin và sự tự nhận thức năng lực bản thân cao hay thấp có liên quan mật thiết đến khả năng và niềm tin của cá nhân để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Sự gia tăng năng lực bản thân dẫn đến sự kiên trì trong sự nghiệp (Mau, 2003), thừa nhận cơ hội trong tinh thần kinh doanh (Ardichvili & cộng sự, 2003) và sự khởi đầu chính là ý định khởi nghiệp. Khả năng nhận thức năng lực bản thân là yếu tố thiết yếu ảnh hưởng đến hành vi thông qua quá trình, thiết lập mục tiêu, kỳ vọng kết quả và thách thức trong thời điểm nhen nhóm thực hiện ý định khởi nghiệp. Tự nhận thức về xu hướng và khả năng của một cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình dự định (Ryan, 1970). Một nghiên cứu của Piperopoulos và Dimov đã khẳng định tác động mạnh mẽ của nhận thức năng lực bản thân đối với hành vi và quyết định của các cá nhân đã thúc đẩy mạnh mẽ hành trình thay đổi tư duy khởi nghiệp và hình thành ý tưởng khởi nghiệp của các cá nhân (Piperopoulos & Dimov, 2015; Zhao & cộng sự, 2005).
Ý thức mạnh mẽ về sự nhận thức năng lực bản thân được phát triển thông qua sự thừa nhận hiệu suất hàng ngày và sự tham gia thành thạo (Gist, 1987). Nhận thức năng lực bản thân đúng đắn và mạnh mẽ sẽ dẫn đến tham vọng cao hơn và hiệu quả của những hành động (Herron & Sapienza, 1992). Các tài liệu trước đây về năng lực bản thân trong môi trường kinh doanh cho thấy rằng nó phản ánh niềm tin của các cá nhân và dự đoán ý định bắt đầu kinh doanh mới của họ (Krueger & Brazeal, 1994).3 Thái độ đối với khởi nghiệp (Attitude towards entrepreneurship) Theo kết quả nghiên cứu, nhóm học giả đã định nghĩa thái độ là mức độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một người khi thực hiện hành vi nhất định (Ajzen & Madden, 1986). Thái độ đối với khởi nghiệp là mong muốn của một cá nhân trở thành một doanh nhân có trước ý định kinh doanh và nó hình thành ý định của một người để hành xử theo những cách cư xử nhất định.
Theo nghiên cứu của Doh, ý định khởi nghiệp của sinh viên có thể được điều chỉnh theo hướng tích cực bằng cách cải thiện môi trường đại học liên quan đến việc thiết lập các biện pháp hỗ trợ và cải thiện hình ảnh của doanh nhân (Doh & cộng sự, 1996). SVTH: Nguyễn Nguyên Vũ 8 Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Trương Ngọc Anh Vũ Thái độ đổi với khởi nghiệp có thể được mô tả theo bốn nhận định sau (Carter & cộng sự, 2003): • Thái độ là quan điểm của một cá nhân về một sự vật và môi trường cụ thể. Đó là khuynh hướng của một người đối với sự kiên trì và nhất quán.
Ngoài ra, xu hướng này có thể được suy ra từ hành vi của cá nhân. Tuy nhiên, ý định trong một thái độ không chỉ được phân biệt thông qua hành vi. Thái độ bao gồm kiến thức chung và bao gồm nhận thức, cảm xúc, hành động. • Thái độ phải có mục tiêu.
Mục tiêu của một thái độ là một người hoặc vật cụ thể và cũng có thể là một ý tưởng hoặc suy nghĩ trừu tượng. • Thái độ tương tự như khuynh hướng. Khi mọi người giữ thái độ tích cực đối với một mục tiêu nhất định, họ sẽ giữ thái độ tích cực tương tự đối với một mục tiêu tương tự. • Truyền thống văn hóa, môi trường gia đình, môi trường giáo dục của mỗi người là những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ.
Nói chung, một thái độ là một tập hợp các đặc điểm cá nhân có thể học được. Thái độ đối với khởi nghiệp có mối quan hệ tích cực với ý định khởi nghiệp, trong đó một người có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp có xu hướng thích tự khởi nghiệp hơn (Douglas & Shepherd, 2002; Agolla & cộng sự, 2019). Một người càng có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp thì người đó càng có nhiều khả năng thành công. Bằng chứng cho thấy thái độ đối với hành vi đó đề cập đến mức độ đánh giá tích cực của một cá nhân về việc bắt đầu kinh doanh mới (Aragon-Sanchez & cộng sự, 2017).