CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Theo Reuters ở Mỹ, một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ Trung tâm Ngăn ngừa và Kiểm soát Bệnh tật Mỹ (CDC) có trụ sở ở Atlanta công bố 19/12/ 2007 trên tờ Sức khoẻ Adolescent (Mỹ) đưa ra những thông tin gây sốc đối với các bậc phụ huynh. Nghiên cứu được thực hiện trên khoảng 2.000 đối tượng nam nữ học sinh tuổi từ 15 đến 19 trên toàn nước Mỹ chỉ ra rằng với các học sinh được học về giáo dục giới tính thì đến 15 tuổi mới. quan hệ tình dục lần đầu, trong khi việc "thử trái cấm" đối với những em chưa qua khoá học này xảy ra sớm hơn.
Báo cáo kết luận: “ Giáo dục giới tính mang lại sự khác biệt trong tỷ lệ thanh thiếu niên Mỹ quan hệ tình dục sớm giữa các nhóm tham gia và không tham gia." Theo Bách khoa toàn thư1, Một cuộc điều tra về tình dục của Tổ chức Y tế Thế giới liên quan tới thói quen của thanh niên châu Âu năm 2006 cho thấy: Ở Đức, thanh niên Đức có quan tâm tới tránh thai. Tỷ lệ sinh trong độ tuổi 15- tới 19- rất thấp, chỉ 11.7 trên 1000 dân, so với 27.8 tại Anh Quốc và đầu bảng là 39. Nước Anh là một trong những nước có tỷ lệ mang thai thanh niên cao nhất châu Âu và giáo dục giới tính đang là một vấn đề sôi nổi tại chính phủ và trên truyền thông. Cũng theo Bách khoa toàn thư, trong một cuộc nghiên cứu năm 2000 của Đại học Brighton về GDGT, nhiều trẻ em 14 tới 15 tuổi nói rằng chúng thất vọng với nội dung của những bài học giới tính và cảm thấy sự thiếu tin cậy khiến thanh niên ngại hỏi giáo viên về tránh thai.
Trong một cuộc nghiên cứu năm 2008 của YouGov cho Channel 4 kết quả cho thấy ba trên mười thanh niên nói rằng họ cần thêm giáo dục về giới tính và quan hệ.org/wiki/giáo_dục_ giới_tính -7- Một cuộc điều tra gần đây ở Trung Quốc cho thấy: thanh niên vẫn còn né tránh khi nói về vấn đề tình dục, giới tính. Các bậc phụ huynh không biết bắt đầu như thế nào khi nói chuyện với con về vấn đề này. Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình, Trung tâm tư vấn về kế hoạch hóa gia đình và Trung tâm sức khỏe sinh sản của tỉnh Tô Châu, Trung Quốc thực hiện cuộc điều tra này. Họ đã tìm đến với 13.780 người ở 12 tỉnh, thành phố, các trường học và công sở và những nơi tập trung nhiều người dân nhập cư.
Trong số những người được phỏng vấn này có 8.947 người là cư dân của thành phố Suzhou, 2.427 người là dân nhập cư và số còn lại là học sinh sinh viên. Qua cuộc nghiên cứu này, các nhà hoạch định giáo dục cũng nói thêm rằng việc giáo dục giới tính trong thế hệ trẻ ngày nay vẫn chưa hiệu quả và đôi khi những điều chúng được học từ bố mẹ chưa chắc đã đúng hoàn toàn, nên rất dễ đem lại những hậu quả không mong muốn 2. Giáo dục giới tính là việc làm cần thiết, cung cấp cho các em những kiến thức và kỹ năng bảo vệ sức khoẻ, cũng như kỹ năng đưa ra những quyết định tình dục đúng đắn. Chính vì vậy, mỗi quốc gia nên xây dựng cho mình những hệ thống tư vấn sức khoẻ sinh sản tốt để đảm bảo nhu cầu tìm hiểu cho công dân nước mình.
Tình hình nghiên cứu trong nước. Kết quả nghiên cứu của đề tài KX-04-07 do Viện Khoa học giáo dục tiến hành vào năm 2000 ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng với gần 700 học sinh THPT (từ 17 - 19 tuổi) cho thấy, khoảng 32,8% số em được hỏi chấp nhận quan niệm đã yêu nhau là cho nhau tất cả và chỉ khoảng 34,7% số em phản đối quan niệm này, còn 32,4% số em tỏ thái độ phân vân3. Đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinh THPT hiện nay” của Nguyễn Hà Thành_trường Đại học FPT4, được tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Thanh Hà và trường THPT Bán Công Thanh Hà huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, nhằm mục đích đánh giá chính xác nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh 2 Thủy Nguyễn_theo chinaneweos, việt báo_ tuổi trẻ, thứ 2,24/7/2006,15:26pm 3 Bs Hồ Đắc Duy, Lao động số 89, 23/4/2009, 8:25 a.m 4 Tạp chí tâm lý học, số 7 (124), 7-2009 -8- sản của học sinh THPT hiện nay. Kết quả nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản trong nhà trường hiện nay.
PGS-TS Đào Trọng Hùng, Trung tâm Tư vấn Giáo dục- Tâm lý-Thể chất, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu “Đề xuất và thử nghiệm giải pháp đưa giáo dục giới tính vào Trường Trung học tại TP Hồ Chí Minh” 5. Nghiên cứu đã khảo sát 327 giáo viên ở các trường THCS, THPT và 182 phụ huynh tại TP HCM về việc có nên đưa GDGT và nhà trường không? Có trên 90% người đã trả lời đồng tình với việc mời bác sĩ nói chuyện chuyên đề về GDGT và cung cấp tài liệu in sẵn cho học sinh. Những thông tin ngắn gọn từ bài viết “Quan niệm về tình dục trước hôn nhân và giáo dục giới tính” kết quả nghiên cứu từ Mỹ của tác giả Minh Tiến 6 có giá trị định hướng giáo dục thật lớn, là tiếng chuông gióng lên hồi cảnh báo đối với nhiều ( quá nhiều) ý kiến ngộ nhận, lệch lạc về vấn đề GDGT trong các trường học hiện nay. Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.
khái niệm giới tính, giáo dục giới tính và vai trò của giáo dục giới tính 1.Khái niệm giới tính: Theo giáo trình “Giáo dục học” của Trần Thị Tuyết Oanh7 giới tính là những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu sinh lí cơ thể và những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa giới nam và nữ. Giáo dục giới tính: Theo giáo trình “Giáo dục học” của Trần Thị Tuyết Oanh. NXB Đại học Sư phạm (tr74) giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính. Theo “Vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” của Nguyễn Thị Tố Quyên8 giáo dục giới tính được hiểu là giải phẫu sinh lý cơ thể, vệ sinh thân thể, sức 5 Tuổi trẻ, Thứ Ba, 29/03/2005, 06:23 (GMT+7) 6 Tuổi Trẻ 46-07 ngày 25-11-2007 7 .Trần Thị Tuyết Oanh (2006), Giáo dục học, Nxb Đại học sư phạm trang 73 8 Tạp chí dân số và phát triển, số 1, 1/2006 -9- khoẻ sinh sản, tình dục, tâm lý giới tính, cách giao tiếp ứng xử với bạn khác giới và những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính ., (2009), đề cập vấn đề GDGT đến chiều kích sinh học, văn hóa-xã hội, tâm lý và tinh thần trong lĩnh vực nhận thức, tình cảm và hành vi bao gồm cả các kỹ năng giao tiếp hiệu quả và có những quyết định có trách nhiệm.
Vai trò của giáo dục giới tính Giáo dục giới tính là một quá trình lâu dài để có được những thông tin chính xác, nó giúp hình thành thái độ, niềm tin và những giá trị về bản ngã, về các mối quan hệ tình cảm. Giáo dục giới tính bao gồm nhiều nội dung như: sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh sản, tâm lý giới tính, giao tiếp ứng xử với bạn khác giới, các vấn đề xã hội liên quan đến giới tính. Giáo dục giới tính giúp trẻ có sự hiểu biết đúng đắn về tình dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình. Theo Kirby (1997)9, GDGT hiệu quả cần có những đặc điểm sau: Mục tiêu, phương pháp, tài liệu phù hợp với lứa tuổi, kinh nghiệm về giới tính, văn hóa của trẻ.
Sử dụng nhiều phương pháp giáo dục khác nhau, có sự tham gia tích cực của trẻ Cung cấp thông tin cơ bản về các nguy cơ trong quan hệ tình dục không an toàn. Hoạt động hướng dẫn giao tiếp ứng xử với bạn bè, kỹ năng thương lượng, từ chối. Theo Hội đồng Thông tin và Giáo dục Giới tính Hoa Kỳ10, bốn mục tiêu chính của GDGT là: Cung cấp thông tin về giới tính, bao gồm sự phát triển con người, các mối quan hệ, hành vi tình dục, SKSS, vấn đề văn hóa-xã hội liên quan giới tính. 9 Trích trong Bruess C., (2009), Sexuality Education: Theory and Practice, MA: Jones and Bartlett Publishers, LLC.
10 Trích “SIECUS, Guidelines for Comprehensive Sexuality Education, 2004” - 10 - Cung cấp cơ hội cho những câu hỏi, tìm hiểu về thái độ đối với tình dục, liên quan đến quan hệ với bạn cùng giới, khác giới trong tinh thần tôn trọng, trách nhiệm với người khác. Hỗ trợ phát triển các kỹ năng giao tiếp, quyết định, quả quyết, từ chối trong quan hệ với bạn bè nhằm xây dựng các mối quan hệ an toàn. Giáo dục trách nhiệm trong quan hệ tình dục bao gồm việc không quan hệ, tránh những áp lực quan hệ tình dục sớm, khuyến khích sự dụng biện pháp an toàn trong quan hệ. Để GDGT đạt hiệu quả thì mỗi gia đình cần phải kết hợp các phương pháp giáo dục hợp lý, phù hợp với từng lứa tuổi và hoàn cảnh nhất định.
Đồng thời vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh cần sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Khái niệm gia đình và vai trò của gia đình với giáo dục giới tính cho học sinh THPT. Khái niệm gia đình Theo giáo trình “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý11 Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Vai trò của gia đình về vấn đề giáo dục giới tính Đối với việc GDGT cho con thì gia đình cũng đóng vai trò quan trọng không kém.
Giáo dục giới tính tác động trực tiếp vào các thành viên của gia đình trước khi trở thành vấn đề của toàn xã hội.