phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 03 chương, 07 tiết. 11 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐẢNG VIÊN CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN 1. Đảng bộ xã, thị trấn và đạo đức cách mạng của đảng viên - khái niệm, vị trí, vai trò 1. Đảng bộ xã, thị trấn - khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ 1.
Khái niệm Xã, phường, thị trấn là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước. Theo khoản 1 điều 110, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Như vậy, xã, thị trấn là cấp thấp nhất, là đơn vị nội thị, nội thành của huyện, thị xã. Điều 21, Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội XI quy định: Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện).
Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp. TCCSĐ dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc. TCCSĐ có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy [19, tr. 12 Những trường hợp sau đây cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện: lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên; lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên; lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở.
Theo quy định của Điều lệ Đảng,TCCSĐ gồm có chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở. Chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở tuy cùng là chi bộ, nhưng chi bộ cơ sở khác chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở ở nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm kỳ của chi ủy. Như vậy, đảng bộ xã, thị trấn là loại hình tổ chức đảng được lập ở cấp cơ sở. Số lượng đảng viên và cơ cấu tổ chức được tổ chức theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
V trí, vai tr của đảng bộ xã, th tr n Một à, đảng bộ xã, thị trấn là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị (HTCT) xã, thị trấn. Đảng bộ xã, thị trấn là một thành viên của HTCT xã, thị trấn, tuy nhiên khác với các tổ chức khác, đảng bộ xã, thị trấn giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, lãnh đạo toàn diện đối với tất cả HTCT. Đảng bộ xã, thị trấn còn là trung tâm đoàn kết, tập hợp lực lượng để xây dựng đất nước. Đảng bộ xã, thị trấn tập hợp các tầng lớp nhân dân: công nhân, trí thức, tư sản, tiểu tư sản dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đoàn kết xây dựng đất nước.
Đảng bộ định hướng cho HTCT xã, thị trấn về nhận thức và hành động sao cho đi đúng hướng với mục tiêu mà Đảng đã đề ra là xây dựng đất nước đi lên CNXH, tránh tình trạng các tổ chức đi chệch hướng, xa rời lợi ích của quần chúng nhân dân. Đảng bộ xã, thị trấn lãnh đạo HTCT bằng 6 phương thức: Bằng cương lĩnh đường lối nghị quyết của Đảng; Bằng tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục đảng viên, quần chúng, nhân dân thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách, nghị quyết; Thông qua thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, các tổ 13 chức đảng; Thông qua sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên; Thông qua công tác kiểm tra, giám sát; Thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các tổ chức đảng trực thuộc. Hai à, đảng bộ xã, thị trấn là nơi trực tiếp lãnh đạo và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển đường lối, chủ trương chính sách của Đảng thông qua những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ cấp ủy viên. Đảng viên, cán bộ làm công tác tuyên truyền đóng vai trò đặc biệt quan trong trong quá trình truyền bá đường lối chủ trương đến các tầng lớp nhân dân, gương mẫu thực hiện góp phần đưa đường lối chủ trương của Đảng Nhà nước vào thực tiễn.
Trong quá trình thực hiện chủ trương đường lối, những sai sót chưa phù hợp được đảng bộ xã, thị trấn phát hiện và báo cáo lên cấp trên để kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa để thực hiện thắng lợi đường lối. Bên cạnh đó, các phong trào thi đua thường bắt đầu từ chính ngay dưới cơ sở. Ba à, đảng bộ xã, thị trấn là nơi trực tiếp gắn bó với quần chúng nhân dân, là cầu nối giữa Đảng với dân. Vì là cấp cuối cùng nên đảng bộ xã, thị trấn là cơ quan tiếp xúc trực tiếp quần chúng nhân dân, qua đó nghe được những tâm tư tình cảm, và hiểu rõ những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Đồng thời cũng là nơi tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân để xây dựng và hoàn thiện đường lối. Đảng chỉ tồn tại và phát triển khi gắn với quần chúng, sát với quần chúng, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng trong xã, thị trấn thông qua sự phản ánh của đảng bộ xã, thị trấn. Bốn à, đảng bộ xã, thị trấn là nơi trực tiếp xuất phát và tiến hành công tác xây dựng nội bộ Đảng như: kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên; nơi thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, chất lượng TCCSĐ do đó có ảnh hưởng lớn tới chất lượng nội bộ 14 Đảng. Chủ tịch hồ Chí Minh chỉ rõ để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh.
Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Đảng bộ xã, thị trấn có thực hiện tốt các công tác xây dựng nội bộ Đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh thì mới đảm bảo được uy tín và sự lãnh đạo của mình trong quần chúng nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ xã, th tr n Một à, cụ thể hóa Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ xã, thị trấn; Nghị quyết, Chương trình, Đề án, kế hoạch công tác của Đại hội và cấp ủy cấp trên thành các chương trình, đề án, kế hoạch của Đảng ủy để lãnh đạo, kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao. Hai à, bàn và quyết định những định hướng, mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của xã, thị trấn hàng năm.
- Quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh của xã, thị trấn liên quan đến đời sống của đại bộ phận nhân dân: Các chương trình giảm hộ nghèo; phát triển sản xuất kinh doanh, các đề án phục vụ lợi ích công cộng (thư viện, khu vui chơi. Các kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn; phương án củng cố, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng; việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách người có công… - Thông qua các chương trình hành động, kế hoạch, đề án cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cấp ủy và chính quyền cấp trên liên quan đến trách nhiệm quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân (UBND) xã, thị trấn. - Cho ý kiến về những định hướng, chủ trương quan trọng trong chương trình hành động và những quyết định quan trọng về kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh; những vấn đề liên quan đến thực hiện chế độ chính sách và đời sống của nhân dân; việc thành lập, quản lý, sử dụng các quỹ do nhân dân đóng góp, những vấn đề về tổ chức hành chính (như việc thành 15 lập, giải thể các thôn, xóm, các tổ chức quần chúng.) trước khi UBND xã, thị trấn đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. - Cho ý kiến về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh 3 tháng, 6 tháng, 1 năm; báo cáo công tác chỉ đạo điều hành của UBND xã, thị trấn; báo cáo kết quả công tác 6 tháng, 9 tháng, 1 năm của Ủy ban kiểm tra (UBKT), Ban Tuyên giáo Đảng ủy; Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội xã, thị trấn.
- Cho ý kiến về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, MTTQ, các đoàn thể chính trị- xã hội (CT-XH) xã, thị trấn hàng tháng. Ba à, ban hành các Nghị quyết chuyên đề về sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với hoạt động của UBND xã, thị trấn; đối với tổ chức và hoạt động của MTTQ, các đoàn thể CT- XH xã, thị trấn. Bốn à, thông qua kế hoạch thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức theo hướng dẫn và chỉ đạo của cấp trên. Năm à, quyết định việc đánh giá, phân loại chi bộ và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp ủy cấp trên.
Sáu à, bầu ủy viên Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư, ủy viên UBKT và chủ nhiệm UBKT Đảng ủy. Bảy à, chuẩn bị và giới thiệu các chức danh chủ chốt của xã, thị trấn: Bí thư, Phó bí thư, Ủy viên thường vụ Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND và các thành viên của UBND xã, thị trấn; lãnh đạo việc tổ chức thực hiện sau khi được Ban Thường vụ Huyện ủy đồng ý. Tám à, hướng dẫn và chỉ đạo đại hội các chi bộ trực thuộc; bàn và quyết định việc thành lập, giải thể, tổ chức lại các chi bộ trực thuộc; cho ý kiến về kế hoạch Đại hội, báo cáo chính trị và đề án nhân sự của MTTQ và các đoàn thể CT-XH xã, thị trấn, việc thành lập, tổ chức lại các chi hội đoàn thể ở địa bàn dân cư.