phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng. C ươn I: Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2010 đến năm 2015. C ươn II: Đảng bộ tỉnh Điện Biên tăng cƣờng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2015 đến năm 2020. C ươn III: Nhận xét và bài học kinh nghiệm.
7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 Bản đồ hành chính tỉnh Điện Biên năm 2020 8 1. Những nhân tố tác động đến giáo dục phổ thông của tỉnh Điện Biên và chủ trƣơng của Đảng 1. Những yếu tố tác động 1. Đ u kiện tự nhiên Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Việt Nam, có vị trí chiến lƣợc an ninh, quốc phòng của cả khu vực miền Tây Bắc.
Năm 2020, Điện Biên có diện tích tự nhiên là 9.562,9 km2; gồm các đơn vị hành chính: 1 thành phố Điện Biên Phủ, 1 thị xã Mƣờng Lay, 8 huyện (Điện Biên, Điện Biên Đông, Mƣờng Ảng, Mƣờng Chà, Tuần Giáo, Mƣờng Nhé, Nậm Pồ, Tủa Chùa). Điện Biên là tỉnh duy nhất của Việt Nam có chung đƣờng biên giới với 2 quốc gia là Trung Quốc và Lào. Trên tuyến biên giới Việt - Lào có 2 cửa khẩu đã đƣợc mở là Huổi Puốc và Tây Trang. Trên tuyến biên giới Việt - Trung đã mở và nâng cấp cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú thành cửa khẩu quốc gia - đầu mối giao lƣu của vùng Tây Bắc Việt Nam với các tỉnh Bắc Lào và Tây Nam Trung Hoa.
Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để tỉnh Điện Biên đẩy mạnh giao lƣu kinh tế, thƣơng mại, chính trị văn hóa của tỉnh nói riêng và cả nƣớc nói chung với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc với Đông Bắc Mianma. Do đó, cần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực để thực hiện tốt những mối quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nƣớc láng giềng, đồng thời cũng nâng cao nhận thức của giới trẻ để có thể thích ứng đối với những tác động tiêu cực ở vùng biên giới. Địa hình của tỉnh Điện Biên khá hiểm trở, ngoài lòng chảo Điện Biên và một số khu vực thuộc huyện Mƣờng Ảng, Tuần Giáo, cao nguyên ở Mƣờng Nhé, Tủa Chùa. địa hình tƣơng đối b ng phẳng, còn hầu hết là địa hình đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nhất là mạng lƣới giao thông kết nối và tổ chức các điểm dân cƣ.
Địa hình đa dạng phức tạp nên khó khăn cho việc xây dựng các trƣờng học, việc đến trƣờng của học sinh phổ thông ở Điện Biên. Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới, nhiều dân tộc thiểu số với trên 80% dân số sống b ng nông nghiệp. Tổng diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 108.158 ha, chiếm 11,32% diện tích đất tự nhiên; trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 309.765 ha (chiếm 32,42%), diện tích đất chuyên dùng 6. Ngoài 9 ra, Điện Biên còn có 528.370 ha đất chƣa sử dụng (chiếm 55,3%) tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó chủ yếu là đồi núi (chiếm 96,9%).
Điện Biên chỉ có một số loại khoáng sản chính nhƣ than đá, đá đen, vàng, cát, sỏi và các loại vật liệu xây dựng khác. Nhƣng đây là nguồn lực khá quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở địa phƣơng. Nhƣ vậy, Điện Biên có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và lâm nghiệp. Để khai thác hết những tiềm năng này, ngoài những yêu cầu về vốn và công nghệ, Điện Biên cũng cần tập trung phát triển nguồn nhân lực có chất lƣợng để phù hợp với xu thế phát triển chung của kinh tế trong khu vực Tây Bắc và trên phạm vi cả nƣớc.
Đ u kiện kinh tế - xã hội Cùng với xu thế phát triển chung của cả nƣớc, từ năm 2010 đến năm 2020, kinh tế tỉnh Điện Biên tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo hƣớng sản xuất hàng hóa nhiều thành phần; đã và đang hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh, kết hợp mở rộng vùng cây ăn quả, cây công nghiệp gắn với cơ sở chế biến có quy mô và công nghệ phù hợp; đồng thời hình thành các khu đô thị mới góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Tốc độ tăng trƣởng GDP của tỉnh bình quân cả thời k 2011 - 2015 tăng 9,12%/năm; mức thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt khoảng 1.106,6 USD, gấp 1,84 lần so với năm 2010. Nhịp độ phát triển bình quân thời k 2011 - 2015 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,53%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 7,3%/năm; khu vực dịch vụ tăng 12,95%/năm [17]. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2015 tăng bình quân 13,37%/năm.
Thu ngân sách trên địa bàn năm 2015 ƣớc đạt 824,94 tỷ đồng, tăng 2,8 lần so với năm 2010; tổng thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn đạt 7.242 tỷ đồng gấp 2,99 lần so với năm 2010. Dân số Điện Biên trên 538,100 ngƣời, với mật độ dân số 56 ngƣời/km2. Gồm 19 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 37.99%; dân tộc Mông chiếm 34.8%; dân tộc inh chiếm 18.42%; dân tộc hơ Mú chiếm 3.3%; còn lại là các dân tộc khác. Dân số ở Điện Biên ít, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ phát triển chậm, trình độ dân trí thấp, nhiều tệ nạn xã hội vẫn còn đặc biệt là tệ nạn liên quan đến ma túy.
Do đó, để phát triển giáo dục phổ thông đối với dân tộc thiểu số ở 10 những địa bàn núi cao đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Điện Biên cần phải có những chủ trƣơng, chính sách phù hợp [17]. Tỉnh Điện Biên có di tích lịch sử chiến trƣờng Điện Biên Phủ, khu chỉ huy chiến dịch Mƣờng Phăng là tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch và nghiên cứu lịch sử. Bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều điểm du lịch hấp dẫn nhƣ: hồ Pa hoang, suối nƣớc nóng Hua Pe, U Va, thác Mƣờng Luân, thành Bản Phủ Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều dân tộc cùng sinh sống với những nét văn hóa đặc trƣng riêng, gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, rất thích hợp để phát triển du lịch văn hóa. Theo chiến lƣợc phát triển du lịch Điện Biên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Điện Biên là một trong 3 địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
Theo đó, tỉnh có 1 điểm đến đƣợc xác định đầu tƣ thành khu du lịch quốc gia: Điện Biên Phủ - Pá Khang - Mƣờng Phăng. Hƣớng phát triển là phát huy thế mạnh của những sản phẩm du lịch mà tài nguyên đặc trƣng là quần thể di tích lịch sử, bản văn hóa các dân tộc, danh lam thắng cảnh. Trong những năm gần đây đƣợc sự quan tâm, hỗ trợ từ Trung ƣơng, tỉnh đã triển khai nâng cấp, mở rộng sân bay Mƣờng Thanh và mở rộng các đƣờng bay ra các thành phố lớn nhƣ Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh; dự án xây dựng đƣờng cao tốc Sơn La - Điện Biên - Tây Trang; một số tập đoàn lớn đầu tƣ cho phát triển kinh tế ở Điện Biên nhƣ tập đoàn VinGroup Cơ sở hạ tầng này góp phần thúc đẩy sự giao lƣu kinh tế - văn hóa của Điện Biên với các địa phƣơng khác trong cả nƣớc, đồng thời tạo nhiều cơ hội cho sự phát triển của giáo dục Điện Biên. T n n od cp ổt n tỉn Đ ện B n trước năm 2010 Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XI, nhiệm kì 2005 - 2010, sự nghiệp giáo dục phổ thông của tỉnh Điện Biên đạt đƣợc nhiều kết quả tích cực: Thứ nhất, về hệ thống giáo dục: trƣớc năm 2010, Quy mô, mạng lƣới giáo dục tiếp tục mở rộng.
Trong năm học 2009 - 2010, toàn tỉnh Điện Biên có 479 trƣờng học trong đó Mầm non có 165 trƣờng với 43.106 trẻ; Tiểu học có 172 trƣờng với 61.566 học sinh, cấp THCS gồm 112 trƣờng với 1.773 học sinh (tăng 02 trƣờng, tăng 1193 học sinh so với cuối năm học trƣớc); cấp THPT gồm 28 trƣờng với 410 lớp, 13. Năm 2009, Điện Biên là tỉnh đầu tiên trong cả nƣớc xây dựng Đề án và tổ chức thành công việc nâng cấp các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú huyện từ cấp THCS lên cấp THPT. Toàn tỉnh năm 2010 có 09 trƣờng PTDTNT (có 01 trƣờng PTDTNT THPT chƣa hoạt động do chƣa có cơ sở vật chất); trong đó: 01 trƣờng PTDTNT cấp tỉnh; 08 trƣờng PTDTNT cấp huyện. Đây là một trong những thành tựu tiêu biểu của giáo dục tỉnh Điện Biên trƣớc năm 2009.
Thứ hai, về chất lƣợng đội ngũ giáo viên: hông ngừng đổi mới và nâng cao năng lực của hệ thống quản lý giáo dục, đổi mới quản lý tài chính, huy động các nguồn lực phát triển giáo dục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục. Thực hiện ba công khai: Công khai chất lƣợng giáo dục, đào tạo; công khai các điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên; công khai thu, chi tài chính. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, thanh tra tài chính. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp tiếp tục đƣợc bổ sung, về số lƣợng, nâng cao chất lƣợng, từng bƣớc đồng bộ về cơ cấu; hàng năm đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
So với năm 2000, số cán bộ quản lý và giáo viên Tiểu học tăng 1,6 lần, Trung học cơ sở tăng 2,7 lần; Trung học phổ thông tăng 3,2 lần; Cao đẳng, chuyên nghiệp, dạy nghề tăng 2,5 lần. Năm 2007, tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn của giáo viên mầm non và giáo viên tiểu học là 99,3%; trung học cơ sở 91,5%; trung học phổ thông 91,3%. Cán bộ quản lý đạt trình độ chuẩn hóa và đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng về kiến thức quản lý giáo dục, quản lý nhà nƣớc, lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu công tác. Công tác phát triển Đảng trong trƣờng học đã đƣợc quan tâm, đẩy mạnh: 100% trƣờng học có đảng viên; số cán bộ, giáo viên là Đảng viên chiếm 20,5%; tăng 7,5% so với năm 2000.
Hiện tại cấp trung học có 4.890 cán bộ, giáo viên, công nhân viên: Cấp THCS: 3.