phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận án bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học công lập. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam.
7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các vấn đề liên quan đến tài chính GDĐH đã đƣợc nhiều đối tƣợng trong XH quan tâm dƣới những khía cạnh khác nhau. Trên cơ sở đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tài chính GDĐH nói chung, phát triển NLTC cho GDĐH nói riêng đã đƣợc triển khai trên nhiều khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau, do đó có những quan điểm, cách đánh giá khác nhau, tập trung ở một số nội dung sau: 1. Những nghiên cứu về xu thế giao quyền tự chủ tài chính.
- Ngay từ giữa thế kỷ XX, Milton Friedman (1955) đã cho rằng vai trò của Nhà nƣớc đối với GD chỉ bao gồm hai nguyên tắc cơ bản: "Tạo ra luật và thổi còi và cấp kinh phí hỗ trợ ngƣời học và nhà trƣờng; phần còn lại để các trƣờng đƣợc tự chủ, ngƣời giám sát nó là các quy luật của thị trƣờng và Nhà nƣớc không cần can thiệp”[171]. - Các nghiên cứu về các mô hình quản trị đại học trên thế giới thƣờng tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và cơ sở GDĐH cho thấy mức độ tự chủ - thể hiện ở mức độ kiểm soát của Nhà nƣớc đối với cơ sở GDĐH - ở các quốc gia rất khác nhau, chịu ảnh hƣởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nƣớc kiểm soát hoàn toàn, đến các mô hình bán tự chủ, mô hình bán độc lập và mô hình độc lập. Mặc dầu vậy, trong mô hình Nhà nƣớc kiểm soát thì cơ sở GDĐH vẫn đƣợc hƣởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, Nhà nƣớc không thể kiểm soát đƣợc tất cả các hoạt động của cơ sở GDĐH; bên cạnh đó, ngay trong mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nƣớc nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lƣợc và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở GDĐH [58].
- Dƣới góc nhìn về bản chất thực sự của tự chủ, theo báo cáo của Word Bank năm 2012, đó là việc chính phủ ngày càng rút bớt vai trò trong quản lý thƣờng nhật, cho phép các cơ sở GDĐHCL đƣợc tự quyết định con đƣờng đi của mình, cho phép 8 các trƣờng tự do quyết định lựa chọn về cơ chế quản lý, quản trị nội bộ với những cơ chế khuyến khích định hƣớng thị trƣờng tối ƣu hiện có. Cùng quan điểm này và phân tích sâu hơn dƣới góc độ quản lý tài chính, PGS,TS. Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2012) cho rằng "việc Nhà nƣớc giảm cấp kinh phí thƣờng xuyên cho các cơ sở GDĐHCL, các cơ sở này tự cân đối kinh phí thƣờng xuyên nhƣ hiện nay tại Việt Nam là giao quyền tự chủ tài chính, là chƣa hoàn toàn đúng với bản chất của vấn đề, mặc dù là một xu hƣớng đúng đắn"[95]. Đồng thời các tác giả cho rằng "ở trạng thái tự chủ hoàn toàn, về lý thuyết, các trƣờng sẽ đƣợc tự chủ tất cả các yếu tố tác động tới nguồn thu, tất cả các yếu tố tác động tới việc chi tiêu các NLTC"[95].
- Dƣới góc nhìn về việc phát huy quyền tự chủ của các cơ sở GDĐHCL, Trần Đức Cân (2012) cho rằng "các cơ sở GDĐHCL cần chủ động đẩy mạnh sử dụng cơ chế tự chủ tài chính trong khai thác, mở rộng, nâng cao chất lƣợng NLTC; tăng cƣờng hiệu quả phân bổ, sử dụng NLTC"[22]; Vũ Thị Thanh Thủy (2012) đề xuất "tăng cƣờng tự chủ về đào tạo, tuyển sinh, tuyển dụng, nguồn thu, điều kiện CSVC, trong đó phân tích mức độ tác động đến khả năng tự chủ tài chính của các yếu tố: Tài sản công, số GV cơ hữu, điểm tuyển sinh, ngành đào tạo, chƣơng trình đào tạo và tuổi trƣờng "[135]; cùng quan điểm này Nguyễn Xuân Hiệp (2014) cho rằng "cần tăng cƣờng phân cấp mạnh, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khai thác, huy động và sử dụng toàn bộ nguồn kinh phí thƣờng xuyên cho các cơ sở GDĐH ngành Công an "[56]. - Dƣới góc nhìn có tính đột phá mạnh mẽ trong tƣ duy, GS,TS. Nguyễn Đình Phan (2012) cho rằng "trong cơ chế thị trƣờng, GDĐH là một dịch vụ đặc biệt và cơ sở GDĐH cần coi nhƣ một công ty - một thực thể đƣợc thành lập theo luật pháp và hoạt động vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, do Chính phủ hay tƣ nhân sở hữu hoặc kiểm soát"[101]. Cùng chung quan điểm này và có những phân tích cụ thể hơn, TS Nguyễn Trƣờng Giang (2012) cho rằng "các cơ sở GDĐHCL đƣợc Nhà nƣớc giao vốn và bảo toàn, phát triển vốn; đƣợc huy động, góp vốn liên doanh, liên kết"[47]; TS.
Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) thì cho rằng "các cơ sở GDĐHCL cần đƣợc cho phép sở hữu và tự quyết định về việc sử dụng tài sản và đi vay "[2]; Bùi Tiến Hanh (2007) đề nghị "thí điểm cơ chế cổ phần hóa nhằm chuyển các cơ sở GDCL sang hoạt động theo mô hình DN"[54]. 9 - Dƣới góc nhìn có tính thực tế hơn đối với GDĐHCL ở nƣớc ta hiện nay, khi nghiên cứu đến vấn đề quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình đối với các cơ sở GDĐH, Arthur M. Để thực hiện tốt phƣơng án tự chủ kết hợp này, tác giả đề xuất 4 biện pháp: “Một là Nhà nƣớc phải xác định rõ định hƣớng, chiến lƣợc phát triển hệ thống GD&ĐT của đất nƣớc một cách khoa học, chuẩn xác; để làm căn cứ cho mọi hoạt động tiếp theo của các phân hệ thuộc ngành đại học. Hai là Nhà nƣớc cần ban hành luật pháp, thể chế, văn bản hƣớng dẫn thi hành luật pháp, thể chế quản lý giáo dục đào tạo một cách khoa học và chuẩn xác, đồng thời phải nghiêm khắc thực hiện việc trừng phạt đối với các vi phạm.
Ba là Nhà nƣớc phải tạo ra môi trƣờng thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở GDĐH phát triển đúng hƣớng. Bốn là Nhà nƣớc cần làm tốt chức năng kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, xếp loại các cơ sở GDĐH"[53]. Cùng quan điểm này, Trần Trọng Hƣng (2015) cho rằng “nên cho phép các cơ sở GDĐHCL tự chủ để phát huy khả năng sáng tạo và tạo điều kiện huy động các nguồn lực cho phát triển trƣờng, tuy nhiên cần xây dựng lộ trình giao quyền tự chủ và công tác kiểm định chất lƣợng GDĐH nhằm hạn chế tự chủ tràn lan trong khi năng lực kiểm soát của Bộ GD&ĐT có hạn và hạn chế các cơ sở GDĐHCL lạm dụng tự chủ"[63]. Những nghiên cứu về đầu tư ngân sách Nhà nước - Trên góc độ quản lý vĩ mô, Bùi Tiến Hanh (2007) đề xuất "ƣu tiên đầu tƣ NSNN có trọng điểm cho GDĐH, tập trung đầu tƣ cho các ĐH quốc gia, các trƣờng ĐH trọng điểm quốc gia, đồng thời lựa chọn SV làm đối tƣợng xây dựng định mức phân bổ dự toán NSNN chi thƣờng xuyên cho GD và có điều chỉnh hệ số giữa các vùng"[54].
- Với mục tiêu nâng cao hiệu quả các NLTC do Nhà nƣớc đầu tƣ, Phạm Chí Thanh (2011) cho rằng cần điều chỉnh cơ cấu chi cho các ĐVSN công theo hƣớng 10 "tăng cơ cấu chi cho các lĩnh vực GD&ĐT, Y tế và KHCN; trong đó cần ƣu tiên tăng chi cho các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn; giảm dần chi thƣờng xuyên, tập trung cho chi CSVC, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao "[112]; Bùi Phụ Anh (2015) đề xuất "mức đầu tƣ NSNN cho GD&ĐT đạt từ 20% trở lên trong tổng chi tiêu NSNN hàng năm trong đó ƣu tiên đầu tƣ cho đào tạo CLC"[1]; cùng chung quan điểm trên và phân tích sâu hơn trong GDĐH, Trần Đức Cân (2012) đề xuất "tăng cơ cấu chi đầu tƣ XDCB, ƣu tiên NSNN cho các dự án quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng dùng chung"[22]; TS. Nguyễn Trƣờng Giang (2012) cho rằng cần thực hiện tái cơ cấu phân bổ nguồn lực NSNN theo hƣớng "NSNN ƣu tiên cho việc xây dựng, tăng cƣờng CSVC, trang thiết bị, cơ sở dùng chung…"[47]; TS. Vũ Nhữ Thăng và ThS Hoàng Thị Minh Hảo (2012) cũng cho rằng "đổi mới cơ cấu chi NSNN cho GDĐH trên cơ sở tăng chi đầu tƣ XDCB, giảm dần chi NSNN cho bộ máy và hoạt động thƣờng xuyên"[114]. - Về phƣơng thức phân bổ NSNN, TS.
Nguyễn Trƣờng Giang (2012) cho rằng "cần thực hiện cơ chế phân bổ NSNN theo tiêu chí đầu ra, gắn với hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong đào tạo, định mức phân bổ chi phí đào tạo, thực hiện phân bổ kinh phí gắn với các kết quả đánh giá, kiểm định độc lập về chất lƣợng đào tạo, đồng thời thực hiện chính sách Nhà nƣớc đặt hàng đối với một số ngành khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn. Vũ Nhữ Thăng và ThS. Hoàng Thị Minh Hảo (2012) đi vào phân tích cụ thể "các tiêu chí làm căn cứ phân bổ NSNN cho các cơ sở GDĐHCL theo đầu ra, gắn với mục tiêu công bằng, hiệu quả, nhu cầu đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo"[114]. Đồng thời, kiến nghị Nhà nƣớc "cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất lƣợng đầu ra, tiêu chí kiểm định chất lƣợng đào tạo"[114]; Nguyễn Thu Hƣơng (2014) cho rằng "không nên cấp kinh phí theo phƣơng án cào bằng mà cấp kinh phí theo kết quả phân loại các chƣơng trình đào tạo CLC theo khả năng xã hội hóa , đối với các chƣơng trình đào tạo CLC ngành khoa học cơ bản áp dụng phƣơng thức Nhà nƣớc đặt hàng đào tạo"[64].