Chương 1), đề tài gồm 4 chương chính. Chương 2 nêu lên cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin. Chương 3 khái quát thực trạng hoạt động của các trường ĐHTT ở Việt Nam hiện nay. Chương 4 tập trung phân tích đánh giá chính sách của nhà nước đối với các trường ĐHTT thông qua các văn bản quy phạm 4 pháp luật.
Chương 5 kết luận và đưa ra những kiến nghị chính sách, đánh giá tính khả thi cũng như những hạn chế của nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1 Một số khái niệm 2.1 Đại học tư thục Theo từ điển Cambridge, giáo dục tư thục (Private Education) là giáo dục được thực hiện bởi cá nhân hay tổ chức xã hội, công ty ngoài chính phủ (Cambridge University Press, 2005). Ngoài ra, một số thuật ngữ khác như Owned-run Education, Community-run Education để chỉ giáo dục ngoài chính phủ được điều hành bởi các cá nhân và cộng đồng xã hội cũng được sử dụng. Căn cứ vào những quy định pháp luật về loại hình ĐHTT, (i) “trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước” (Điều 48 - Luật giáo dục 2005); (ii) “trường Đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước hoạt động theo quy chế này và Điều lệ trường đại học, các quy định pháp luật” (Điểu 1 - Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường ĐHTT ban hành kèm QĐ 61 ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; QĐ 63 ngày 10/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐHTT ban hành kèm theo QĐ 61 ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ); (iii) “Cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng CSVC.” (Điều 7 - Luật Giáo dục Đại học 2012 (có hiệu lực năm 2013)) Theo những quy định pháp luật trên, có thể định nghĩa về trường ĐHTT một cách ngắn gọn như sau: Trường ĐHTT là một cơ sở GDĐH thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cá nhân hoặc tổ chức thành lập và hoạt động bằng vốn đầu ngoài ngân sách nhà nước.
Các trường ĐHTT được chia thành hai loại, trường ĐHTT vì lợi nhuận - được tổ chức và hoạt động như các công ty đối vốn và các trường ĐHTT phi lợi nhuận - không được tổ chức như các công ty cổ phần, không có vốn cổ phần, cổ đông cũng như không chia lợi tức (Phạm Duy Nghĩa, 2012).2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học Quản lý nhà nước về GDĐH là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để điều tiết hoạt động GDĐH theo mục tiêu của mình. Đó là việc quyết định các chủ trương quản lý; tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ và chủ trương quản lý; lựa chọn, sắp xếp cán bộ và bộ máy; giáo dục, bồi dưỡng và ra chính sách khích lệ; kiểm tra và đánh giá kết quả của việc quản lý (Lê Văn Giang, 2001). Quản lý nhà nước về GDĐH là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GDĐH (Trần Kiểm, 2006).2 Cơ sở để nhà nước can thiệp vào hoạt động của các trường đại học NCL Nhà nước sẽ can thiệp vào thị trường khi thị trường xuất hiện một trong các thất bại về phân bổ nguồn lực không hiệu quả hoặc nền kinh tế vận hành không đạt được những kết quả theo mong muốn của nhà nước (Vũ Thành Tự Anh, 2012). Những biểu hiện của thất bại thị trường là: tồn tại thế lực thị trường, thông tin bất cân xứng, hàng hóa công, ngoại tác và bất ổn vĩ mô.
Nguyên nhân gây nên thất bại của thị trường chủ yếu là do bản chất hàng hóa và cách thức mà thị trường đang vận hành. Cần phải xem xét đặc điểm của thị trường GDĐH tư nhân để xác định cơ sở can thiệp của nhà nước trong thị trường này. Thứ nhất, khi xem xét ở góc độ hàng hóa công – với hai đặc điểm là không có tính cạnh tranh và tính loại trừ (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.691) - GDĐH được xem là một dịch vụ tư thuần túy. Tính loại trừ: một hàng hóa, dịch vụ không mang tính loại trừ khi không thể loại trừ mọi người khỏi việc tiêu dùng nó (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.
Đối với GDĐH tính loại trừ thể hiện ở việc người học khi muốn sử dụng dịch vụ phải tham gia thi tuyển, phải đóng học phí… Nếu người học không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ không được hưởng thụ dịch vụ GDĐH. Tính cạnh tranh: hàng hóa, dịch vụ không có tính cạnh tranh là khi một cá nhân có thể tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó mà không làm giảm đi sự hiện diện hay lợi ích của hàng hóa, dịch vụ đó đối với sự tiêu dùng của người khác, hay nói cách khác, chi phí biên cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó cho một người tiêu dùng bổ sung bằng không (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr. Rõ ràng chi phí biên cho việc cung cấp dịch vụ GDĐH cho một sinh viên bổ sung là lớn hơn không. Trường đại học bị hạn chế về CSVC, số lượng sinh 7 viên được tuyển sinh, số lượng sinh viên trên một giảng viên… nên nếu tăng thêm một sinh viên thì phát sinh thêm chi phí nhất định về CSVC, tiền lương cho giảng viên, chi phí quản lý sinh viên… hoặc ảnh hưởng đến việc học của các sinh viên khác.
Tuy nhiên, GDĐH mang lại ngoại tác tích cực. Lợi ích tư nhân của việc học luôn nhỏ hơn lợi ích xã hội do tồn tại lợi ích ngoại tác của việc đi học. Lợi ích ngoại tác là người đi học đem lợi ích cho người khác và xã hội. Việc học sẽ giảm bớt tệ nạn xã hội, dễ dàng hơn cho nhà nước trong việc phổ biến và thực hiện các chính sách kinh tế văn hóa và xã hội.
Hơn nữa, các doanh nghiệp và cơ quan tuyển dụng cũng có lợi nhuận trong việc học của các cá nhân. Người học sau khi tốt nghiệp sẽ có lợi ích trong việc học, sẽ làm việc cho các doanh nghiệp, sự chênh lệch giữa tiền lương và hiệu quả lao động của người được đào tạo là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được do việc học mang lại. Do đó, dịch vụ GDĐH phải được nhà nước đảm bảo về chất lượng đào tạo để phục vụ tốt cho nhu cầu xã hội. Thứ hai, thị trường giáo dục vận hành không hiệu quả.
Hiện nay, hầu hết các trường ĐHTT được sinh viên, phụ huynh đánh giá là có chất lượng đào tạo yếu kém và đứng trước nguy cơ tan rã khi không có nguồn tuyển sinh đầu vào. Về chất lượng đầu ra, các sinh viên tốt nghiệp tại các trường NCL có tỉ lệ thất nghiệp rất cao, không được thị trường lao động đón nhận như nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, chất lượng đầu vào được đảm bảo một phần bằng hình thức thi tuyển, trong khi chất lượng đầu ra lại chưa kiểm định chặt chẽ bởi một cơ quan nào mà giao trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục. Từ những điều trên, GDĐH tư thục có xuất hiện sự thất bại của thị trường, nhà nước có cơ sở để can thiệp.
Nhiều chuyên gia giáo dục và các chính sách gia cũng không đồng tình với việc giao giáo dục hoàn toàn cho thị trường điều phối. Theo quan điểm của UNESCO (UNESCO, 1996, tr.160, trích từ Bùi Chí Bình, 2012), “Giáo dục là tài sản chung không thể phó mặc cho thị trường.” Vì thế, dù là tổ chức nào hay cấp độ phân quyền nào hoặc đa dạng hóa như thế nào trong một hệ thống, nhà nước phải thể hiện trách nhiệm đối với công dân của mình, bao gồm việc tạo ra sự thống nhất trên cả nước về giáo dục, đảm bảo rằng hệ thống đó tạo ra một thể nhất quán và đưa ra cách nhìn dài hạn cho tương lai.3 Các hình thức ức can thiệp của nh nhà nước Hình 2.1 Cây quyết định nh sự s can thiệp của nhà nước Cơ quan nhà nước khác Cung cấp trực tiếp Bộ, ngành Chính quyền cấp dưới Duy trì thẩm Các nhà cung Các tổ chức phi quyền cấp dịch vụ chính phủ Không can thiệp Doanh nghiệp tư nhân LỰA CHỌN Tài chính CHÍNH SÁCH Can thiệp Tài trợ thu nhập Quy định Người tiêu dùng Phiếu trả tiền và Trợ giúp đặc biệt Thực thể có mục đích Ủy quyền Can thiệp Chính quyền cấp LỰA CHỌN dưới CHÍNH SÁCH Không can thiệp Nguồn: ADB (2003 2003), trích trong S. Chiavo-Campo và P. Sundaram m (1999) Nhà nướcc có hai phương thức th cơ bản để can thiệp vào thị trường: ng: Duy trì thẩm th quyền và Ủy quyền.
Phương thức duy trì thẩm m quyền quy Hệ thống các quy định: Nhà nư nước dùng các quy định nhằm mục đích điềều tiết việc cung ứng dịch vụ trên thị trường ng để đ hạn chế tối đa các thất bại vốnn có, theo định đ hướng nhà nước đề ra. Trong lĩnh vựcc GDĐH, nhà nước ban hành những quy chế,, quy định đ về tiêu chuẩn CSVC, trình độ giảng ng viên, ch chỉ tiêu tuyển sinh… để đảm bảo chấtt lượng lư nhất định cung ứng ng cho sinh viên theo học. h Tài chính: Hai đối tượng ng ch chủ yếu nhà nước sử dụng dịch vụ này là các nhà cung cấp c dịch vụ và ngườii tiêu dùng. Nhà nước nư có thể dùng công cụ thuế (miễn, giảm m thuế) thu hoặc trợ cấp cho nhà cung cấp.
Việcc làm này nhằm nh chuyển một phần lợi ích từ nhà cung cấp c sang người tiêu dùng. Nhà nướcc có thể th dùng tiền, hiện vật hoặc gián tiếpp qua chính sách thuế để trợ cấp cho người tiêu dùng. 9 Cung cấp trực tiếp: Nhà nước có thể cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị do nhà nước thành lập và vận hành. Phương thức ủy quyền Ủy quyền cho cấp dưới: Tùy từng loại dịch vụ, chính quyền có thể ủy quyền cho cấp thấp hơn lựa chọn chính sách trên cơ sở phân cấp, phân quyền hiện hữu.