Chương 1: Những vân đê lý luận vê hình thức của giao dịch dân sự; Chương 2: Pháp luật hiện hành và Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Chương 3. Hoàn thiện pháp luật vê hình thức cúa giao dịch dân sự ở Việt Nam hiện nay. NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÚC CỦA GIAO DỊCH DÂN sự 1. Khái niệm, đặc điêm của giao dịch dân sự 1.
Khái niệm giao dịch dân sự Dưới góc độ pháp lý, đời sống của con người trong xã hội đều được tạo lập bởi các giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự được xem là phương tiện hữu hiệu đế con người thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Ngay từ khi nhân loại bước vào giai đoạn trao đổi hàng hóa thì giao dịch dân sự đã được hình thành và chiếm giữ một vai trò quan trọng trong việc điều tiết các mối quan hệ xã hội và được thể hiện rõ nét trong lĩnh vực kinh doanh, giúp biến những dự định hoặc kế hoạch kinh doanh trở thành hiện thực. Nhìn rộng ra trên bình diện xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội phải tham gia vào các giao dịch nhất định để hợp tác, chia sẻ hay kiềm chế lẫn nhau.
Khi các bên tham gia giao dịch là họ đã mong muốn cùng nhau trao đổi, dịch chuyền các lợi ích với nhau và kiềm chế lẫn nhau và tất nhiên phải trên cơ sở không xâm phạm lợi ích hợp pháp cùa người khác hay lợi ích chung của xã hội. Khái niệm “giao dịch” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu một cách đơn giản nhất là “sự giao tiếp, tiếp xúc giữa hai hay nhiều đối tác”. Dưới góc độ xã hội học thì giao dịch là mối quan hệ giữa người với người, được xem là mối liên hệ phổ biến và lâu đời trong lịch sử xã hội loài người. Trong xã hội hiện đại ngày nay, giao dịch được xem là công cụ thông dụng và có hiệu quả, đảm bảo các quan hệ dân sự được thực hiện trong hành lang pháp lý an toàn nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự ngày càng pháp triển.
Vì đóng vai trò vô cùng quan trọng như vậy nên giao dịch dân sự nhanh chóng được đưa vào hệ thống luật pháp của các quốc gia nhằm làm ổn định, 6 giữ trật tự cho nền kinh tế phát triển và ngày càng được khẳng định trong hệ thống pháp luật. Trong xã hội phát triển luôn phải đặt ra nhu cầu hoàn thiện, phát triển chế định giao dịch. Điều này được thể hiện rõ nét trọng hệ thống pháp luật Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay. Tuy thuật ngữ “giao dịch dân sự” chưa được thể hiện từ những ngày đầu cùa lịch sử lập pháp Việt Nam nhưng trong nhũng văn bản cố luật cũng đã tìm thấy những thuật ngữ có nghĩa tương đương hoặc the hiện bản chất của giao dịch như: khế ước hoặc mua, bán, cho, cầm hoặc hành vi thế hiện ý chí của con người nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia như hành vi lập di chúc.
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển của xã hội cùng với sự thăng trầm của nền kinh tể, ngày nay thuật ngữ giao dịch dân sự được nâng tầm thành chế định giao dịch dân sự và chiếm vị trí quan trọng trong Bộ luật dân sự hiện hành. Đối với thế giới, sự phát triển của “giao dịch dân sự” tại mồi quốc gia có những đặc thù riêng. Nét chung nhất có thế thấy được là vị trí cùa chế định giao dịch dân sự ngày càng được nâng cao và chú trọng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình phát triến kinh tế xã hội ỡ một đất nước mà giao dịch dân sự lại được quy định ở những khía cạnh, góc độ khác nhau.
Ví dụ: tại BLDS của Nhật Bản quy định về chế định họp đồng và chế định thừa kế theo di chúc; BLDS của Pháp không nêu ra chế định về giao dịch dân sự mà quy định chế định hợp đồng và chế định thừa kế. Nhìn chung, pháp luật những nước này đều không có khái niệm về giao dịch dân sự nhưng về bản chất và các loại hình của giao dịch dân sự như: hợp đồng, hành vi pháp lí đơn phương đều được quy định cụ thể và chi tiết. Tác giả đồng tình với định nghĩa về giao dịch dân sự tại Điều 121 BLDS 2005. Khái niệm đã mang tính khái quát cao và thể hiện được bản chất của giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự sửa đổi 7 các cơ quan lập pháp Việt Nam đã đê cập đên việc thay đôi thuật ngừ “Giao dịch dân sự” thành thuật ngữ “Hành vi pháp lý” vì cho rằng: thuật ngữ hành vi pháp lý rộng hơn thuật ngữ giao dịch dân sự và bao quát được hết các hành vi pháp lý được thực hiện trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2015 được thông qua vẫn giữ nguyên khái niệm “Giao dịch dân sự” bởi nó chứa đựng các hạt nhân hợp lí như sau: (i) Thuật ngữ “giao dịch dân sự” đặc biệt là thuật ngừ “giao dịch” đã được sử dụng trong suốt thời gian dài và ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân, được sử dụng khá nhiều và phổ biến. Nó chính thức được thừa nhận với một khái niệm hoàn chỉnh tại BLDS 1995. Vì vậy, với một thuật ngữ đã được sử dụng nhiều và không gây ra nhiều những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật thì việc thay thế sẽ gây ra những tác động về mặt tiêu cực không nhỏ.
Nếu các nhà làm luật thay thế thuật ngừ “hành vi pháp lý” cho thuật ngữ “giao dịch dân sự” sẽ kéo theo hàng loạt vãn bản pháp lý có liên quan phải sửa đối những nội dung liên quan đến giao dịch dân sự. (ii) Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế - xã hội phát triển hơn Việt Nam vẫn đang sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” và thuật ngữ này vẫn có thế bao quát được nhiều hành vi xử xự của con người trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một thuật ngữ mới là “hành vi pháp lý” không cần thiết. (iii) Khái niệm hành vi pháp lý được định nghĩa như sau tại Điều 116 dự thảo BLDS sửa đối: “Hành vi pháp lý là sự thê hiện ý chí nhằm làm phát sinh, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hành vi pháp lý hao gồm họp đồng và hành vi phảp lý đơn phương”. So sánh với khái niệm giao dịch dân sự tại Điều 116 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đôi hoặc chẩm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. về băn chất thì cả hai thuật ngữ đều bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý 8 đơn phương. Nên việc sửa đôi ở đây chì đơn thuân là việc sửa đôi tên thuật ngữ còn nội dung và bản chất vẫn được kế thừa từ BLDS 2015.
(iv) Một số nhà làm luật cho ràng đối với hành vi pháp lý như hành vi của chủ sở hữu hoặc người có quyền khác tác động trực tiếp lên tài sản thuộc quyền của mình; hành vi kết hôn, ly hôn, cấp dưỡng. không phù hợp với thuật ngừ giao dịch dân sự. Tuy nhiên, về mặt bản chất chúng ta có thể xác định các hành vi của chủ thể dựa trên nguyên tắc thể hiện ý chí: (i) sự thể hiện ý chí của một người làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được gọi là hành vi pháp lý đơn phương; (ii) sự thỏa thuận cùa từ hai bên trở lên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được gọi là hợp đồng. Như vậy, hành vi của chủ sở hữu hoặc người có quyền khác tác động trực tiếp lên tài sản của mình mà làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự là hành vi pháp lý dơn phương.
Đối với hành vi kết hôn, ly hôn, cấp dưỡng. đều là hành vi hai bên xác lập làm phát sinh quan hệ hôn nhân, chấm dứt quan hệ hôn nhân hoặc phát sinh quan hệ cấp dưỡng, về mặt bản chất có thể được coi là một loại hợp đồng. Tuy nhiên kết hôn là một loại hợp đồng đặc biệt. Tại nhiều nước phương Tây, kết hôn được coi là một dạng họp đồng nhưng tại các nước Châu Á như Việt Nam do truyền thống văn hóa lâu đời còn có nhiều tác động đến pháp luật nên vấn đề kết hôn chưa được thừa nhận là một loại hợp đồng.
Vậy, hành vi nào thỏa mãn khái niệm, bản chất, dấu hiệu, đặc điểm của giao dịch dân sự thì là giao dịch dân sự và không phụ thuộc vào hành vi đó có phù hợp với tên của thuật ngữ hay không. Vì vậy, đối với những trường hợp đặc biệt hay ngoại lệ thì các nhà làm luật nên có những quy định riêng để tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng hơn vì việc thay đối thuật ngữ trong trường hợp này là không thực sự cần thiết. Đặc điêm của giao dịch dân sự Theo khái niệm đã phân tích ở trên về Giao dịch dân sự, có thể thấy Giao dịch dân sự có những đặc điểm sau: 1. Sự thê hiện ỷ chỉ của các bên tham gia giao dịch dân sự Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan của con người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của bản thân họ.
Khi các chủ thể tham gia vào giao dịch các chủ thể đều nhằm mục đích nhất định thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng. Đe đạt được mục đích đó thi các chú thể phải thể hiện ý chí cùa bản thân mình. Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định để các chủ thế khác có thể biết được nguyện vọng mong muốn tham gia giao dịch của chủ thể đó. Bởi vậy, giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí.
Khi tham gia giao dịch dân sự các chủ thế đều thể hiện được ý chí của mình và mong muốn đạt mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Tuy nhiên, ý chí cùa chủ thể phải gắn liền với nội dung và hình thức biểu đạt. Hành vi có ý chí nhung không làm phát sinh hậu quả pháp lý, không được diễn ra một hình thức nhất định phù hợp với quy định cùa pháp luật thì hành vi đó không được coi là giao dịch dân sự.