mở đầu đến kết thúc. Ở phần trình bày về tác phẩm này, dù tác giả có nêu lên những hạn chế nhưng mục đích chính vẫn là: “Phần thứ ba của tập sách- là cốt nêu những đặc sắc trong tác phẩm của nhà nữ sĩ Việt Nam thế kỉ thứ XVIII” [28, tr. Như vậy, mục đích giảng văn của Đặng Thai Mai đã được ông thể hiện trực tiếp, rõ ràng: Giảng một khúc ngâm của dân tộc để khám phá nét đặc sắc của dân tộc ấy, của tác giả ấy. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong phần thứ tư tác giả đi vào cụ thể một số đoạn trích giảng, từ đó trình bày phương pháp giảng văn của mình.
Đoạn “Người chinh phụ trông chồng” với bài trích, bài tham khảo, bản dịch nghĩa, bài diễn giảng. Mặc dù trước đó đã có công trình Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải của Nguyễn Đỗ Mục nhưng trong phần cuối của chuyên luận này, Đặng Thai Mai vẫn muốn trình bày lại toàn khúc ngâm với mong muốn “bởi một lẽ rất dễ hiểu là trong hoàn cảnh ngày nay những sách đã in ra hồi trước không còn đủ cho học sinh dùng nữa, mà giảng văn không thể không có áng văn trước mắt” [28, tr. Sự ra đời của cuốn “Giảng văn Chinh phụ ngâm” rất có ý nghĩa đối với lịch sử phương pháp giảng văn. Chính bởi vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và đánh giá cao cuốn sách.
Đỗ Hữu Châu khi bàn về hoàn cảnh ra đời và vị trí của cuốn sách đã cho rằng Đặng Thai Mai đã “chỉ rõ vị trí của khúc ngâm trong lịch sử diễn tiến của nền văn học Việt Nam, mà còn cả với nền văn học thế giới, trước hết là nền văn học phương Đông, vị trí của nội dung và hình thức nữa. Đây có lẽ là lí do trả lời câu hỏi tại sao vào lúc ấy, năm 1950, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đi vào giai đoạn “chuẩn bị phản công” thầy Mai lại chọn ngay khúc Chinh phụ ngâm mà giảng, chắc chắn ngoài lí do hứng thú cá nhân, còn có lí do- dù thầy không nói ra- cuốn Chinh phụ ngâm có vị trí bản lề, đánh dấu sự đổi thay khá sâu sắc về tư tưởng và kĩ thuật trong văn học Việt Nam. Nó là tiền thân của Truyện Kiều và mở đường cho nền thi ca hiện đại” [40, tr. Bùi Duy Tân thì đánh giá: “Hình như viết gì, Đặng Thai Mai cũng phát hiện được giá trị cơ bản nhất của đối tượng.
Bài viết nào cũng có phần giá trị “tạc bia”, định hướng, mở đường” [40, tr. Còn Trần Đình Sử lại cho rằng đây là một “công trình viết cho hôm nay” và nhận xét: “Đặng Thai Mai đã đề xuất một phương pháp giảng văn mới mẻ theo hướng văn hóa học, thi pháp học” và “con đường Đặng Thai Mai một mình đã sớm dẫn bước, lẻ loi từ bốn mươi năm trước, hôm nay đã bắt đầu rộng mở và tấp nập” [40, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quan điểm giảng văn của Đặng Thai Mai 1.
Khái niệm giảng văn Ở Việt Nam, giảng văn xuất hiện từ rất sớm, ngay từ khi chưa có các môn học khác. Thế nhưng đến nay khái niệm này vẫn chưa có một định nghĩa và cách dùng thống nhất. - Theo Từ điển Từ Hán Việt định nghĩa: Giảng (động từ) có nghĩa là cắt nghĩa [7, tr. 173]; “văn” là Văn học hoặc văn chương [7, tr.
Như vậy, giảng văn được hiểu là giảng giải, cắt nghĩa tác phẩm văn học hoặc văn chương. - Theo Từ điển Tiếng Việt, 1995, định nghĩa: “giảng” (động từ): trình bày kiến thức cặn kẽ cho người khác hiểu [36, tr. Và quan niệm “giảng văn” (động từ): giảng về văn học trong nhà trường bậc phổ thông [36, tr. - Theo Hoàng Tuệ, “giảng văn là tên gọi tương ứng với explication de texte trong truyền thống Pháp… “Explication” có nghĩa là “giảng giải”, “giải thích”, cũng có nghĩa là “phân tích”.
Từ Pháp này có gốc ở một động từ Latinh với nghĩa “mở nếp” tức phân tích” [40, tr. - Trong lịch sử nghiên cứu phê bình văn học truyền thống, giảng văn được dùng song song với “bình văn” để phân biệt hai khuynh hướng cảm thụ tác phẩm văn học. Bình văn là một truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Trên thực tế, “giảng văn” và “bình văn” gặp nhau và không tách biệt.
“Sự thật, hai truyền thống đó có gặp nhau. Giảng là phân tích để làm cơ sở cho bình, và bình cần dựa trên cơ sở giảng, tức phân tích” [40, tr. - Theo lịch sử khoa cử và giáo dục Việt Nam, từ thời phong kiến, khái niệm “giảng văn” đã được dùng để chỉ hoạt động giảng văn trên lớp của giáo viên và là một phân môn cơ bản của môn Văn trong nhà trường [30, tr. Như vậy, khái niệm giảng văn có nhiều quan niệm khác nhau.
Nhưng có thể khái quát lại: giảng văn vừa là một công việc lao động trên tác phẩm, vừa là lao động diễn giảng về văn của giáo viên đồng thời là một môn học có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính cách nhà trường. Nó vừa là một môn khoa học đồng thời là một môn nghệ thuật. Nó là khoa học nhận thức tác phẩm văn học, nó cũng là nghệ thuật cảm thụ và truyền đạt cái hay cái đẹp của tác phẩm đó theo một yêu cầu sư phạm nhất định. Nó đòi hỏi một năng lực có tính chất tổng hợp rất cao trong mọi năng lực của người thầy.
“Như vậy, môn giảng văn, tất nhiên có những quy tắc của nó, nhưng phải chứa đựng yếu tố linh hoạt và sáng tạo, những yếu tố quyết định thành công của khoa học và nghệ thuật này” [20, tr. Ở mỗi bài văn và ở mỗi người cách giảng văn có khác nhau. Nói như vậy để nói rằng môn giảng văn dù không phá vỡ quy tắc của nó, vẫn không thể áp đặt vào những khuôn cứng nhắc đối với tất cả các bài, hay đối với tất cả các đối tượng phục vụ. Tuy nhiên tính linh hoạt và sáng tạo vẫn không mâu thuẫn với các quy tắc chính của môn giảng văn, theo đúng nguyên lý sư phạm, và như vậy, tất cả các bài giảng khi triển khai đều có một số điểm nhất quán về kết cấu và trình tự chung, như phải nêu rõ xuất xứ, cắt nghĩa việc trích đoạn, nêu rõ chủ đề, lựa chọn bố cục tương đối thích hợp nhất, trước khi đi vào phân tích từng câu văn, từng từ ngữ, từng điển cố trong các đoạn mạch, để bạn đọc dễ theo dõi đầu mối và hệ luận toàn bộ cấu trúc bài văn.
Bản chất của quá trình dạy văn trong nhà trường trước đây là truyền thụ - tái tạo. Lối học ấy ngày càng tỏ ra không thể đáp ứng được những đòi hỏi, bức xúc của thời đại, nên đã đặt ra yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn. Cốt lõi của tinh thần đổi mới là: thầy hướng dẫn, tổ chức, học sinh chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tác phẩm. Để phù hợp với tình thần này, môn “Giảng văn” đã được đổi tên thành “Phân tích dạy học tác phẩm văn chương” và ngày nay đổi tên thành “Đọc - hiểu văn bản”.
Đến nay, khái niệm “giảng văn” hầu như không còn nhưng hoạt động giảng văn vẫn được quan tâm. Tên gọi mới đã xuất hiện nhưng trong một số cuốn sách ta vần thấy tác giả dùng khái niệm “giảng văn”. Vấn đề ở đây không phải nằm ở tên gọi. Quan trọng là ở quan niệm và hệ thống lí thuyết về tên gọi ấy.
Khi chưa có một quan niệm hoàn thiện về “giảng văn” thì tên gọi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ là một cách nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác của hoạt động tìm hiểu tác phẩm văn chương mà thôi. Khái niệm giảng văn của Đặng Thai Mai Trong “Giảng văn Chinh phụ ngâm” và nhiều công trình nghiên cứu khác, Đặng Thai Mai đã sử dụng thuật ngữ “giảng văn”. Vậy giảng văn theo quan niệm của ông có hàm nghĩa như thế nào? Nhưng trước khi tìm hiểu quan niệm giảng văn của Đặng Thai Mai cũng cần biết ông đã phê phán một số quan niệm về giảng văn. Cụ thể là: + Giảng văn “không phải chỉ là ngồi nhận định và dẫn chứng với học sinh về nghĩa đen của một chữ hay “xuất xứ” của một điển tích, của một hình tượng, một câu văn mà thôi” [28, tr.
Nếu lối giảng văn hình thức chủ nghĩa đi vào giảng giải tủn mủn câu chữ thì ngược lại lối giảng văn này bỏ qua hình thức, chỉ căn cứ vào chủ đề, đại ý, nghĩa hiển ngôn, bề mặt của ngôn từ tác phẩm rồi diễn nôm lại, thuyết minh lại bằng lời của mình, theo cách hiểu chủ quan của mình. Đặng Thai Mai phê phán một cách nghiêm khắc, hóm hỉnh là: “nói lại bằng mấy câu văn xuôi không xuôi tí nào”. Không đi từ hình thức, không phân tích nghệ thuật, bao nhiêu tâm tư, khát vọng, “bao ý chí tình tứ sâu sắc mà người xưa đã nói với những lời chan chứa thi vị” được thay bằng những câu văn, những nhận định hời hợt, nông cạn, vụng về, thậm chí thô thiển. Đặng Thai Mai cho rằng, “đây không phải là một sự trạng riêng biệt ở các học hiệu nước ta ngày xưa… và ngày nay” mà là một thực trạng chung trong nhà trường Trung Quốc và Tây Âu một thời.
Nguyên nhân thứ nhất, theo ông, là ở trình độ của người giáo viên: Có những thầy giáo giảng văn mà “không hiểu gì về văn học”. Nguyên nhân thứ hai được bắt nguồn từ một quan niệm siêu hình rằng: “thưởng thức văn chương chỉ là câu chuyện chủ quan” chứ không phải giảng giải phê bình. + “Giảng văn không phải là phương tiện thôi miên vô ý thức làm học 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh ngáp sái cả quai hàm” [28, tr. Sai lầm của giảng văn trong nhà trường chúng ta nhiều thập kỉ trước đây là đã nhận thức chưa đúng vai trò của học sinh, coi học sinh như một khách thể thụ động, một đối tượng chịu sự tác động từ phía giáo viên bằng một hệ thống biện pháp sư phạm bên ngoài.
Trong giờ giảng văn thầy tha hồ trổ hết tài nghệ thuyết trình, diễn giảng. Giảng văn như một phương tiện thôi miên mà giáo viên là một nhà ảo thuật còn học sinh là đối tượng bị điều khiển, chịu sự điều khiển. Lối giảng văn ấy không chỉ khiến học sinh chán nản với môn Văn mà cái gọi là chủ thể sáng tạo, vấn đề cá tính, bản lĩnh của học sinh trong thưởng thức, đánh giá văn chương cũng không có điều kiện để bộc lộ và phát triển. Theo Đặng Thai Mai đó cũng là một lối giảng văn cần phê phán.