Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về lý luận giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Thứ nhất, các công trình nghiên cứu có đề cập đến khái niệm vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp: Sự tồn tại của thành phần kinh tế nhà nước gần như tất yếu và phổ biến ở các nước trên thế giới. Cho dù phạm vi và tỷ trọng có sự khác biệt giữa các quốc gia, tuy nhiên kinh tế nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước vẫn nắm giữ vị trí, vai trò quan trọng của trong quản lý vĩ mô nhằm khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường [99].
Chính vì lẽ đó, vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp vẫn luôn là đối tượng nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học, được tiếp cận trên nhiều phương diện khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu. Tại Bộ Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị, Quyển thứ ba: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa của K.Mark [68] đã đề cập đến công ty cổ phần và sở hữu xã hội, được xem là lý luận tiền đề về DNNN và sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc [38]; [40]; [42] đã đề cập một cách tập trung và toàn diện vấn đề lý luận và thực tế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Đặc biệt, Báo cáo phát triển kinh tế và cải cách thể chế phát triển Trung Quốc - 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978- 2008) của Trâu Đông Đào và Âu Dương Nhật Huy [38] đã phân tích các giai đoạn của công cuộc cải cách chế độ sở hữu và phát triển khu vực kinh tế ngoài chế độ công hữu của Trung Quốc từ năm 1978 đến sau năm 2002, trên cơ sở rút ra các kinh nghiệm cơ bản về cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế chế độ công hữu.
Các nghiên cứu của OECD [137], [138], [140] cũng chỉ ra sự cần thiết của sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp, mặc dù lý do của việc nhà nước sở hữu doanh nghiệp thường rất khác nhau giữa các quốc gia, các ngành và thường bao gồm sự kết hợp giữa lợi ích xã hội, lợi ích kinh tế. OECD cũng khuyến nghị sở hữu của Nhà nước đối với doanh nghiệp là vì lợi ích của người dân. Nhà nước cần phải đánh giá thận trọng và công bố các mục tiêu để giải thích hợp lý cho việc nhà nước đóng vai trò sở hữu và việc này cần phải được rà soát định kỳ [137]. Ở Việt Nam, khái niệm vốn nhà nước được đề cập tại nhiều công trình nghiên cứu.
Theo đó, các quan điểm đồng nhất hoặc khác biệt về vốn nhà nước đã 8 được xây dựng và phát triển theo các xu hướng phát triển kinh tế - xã hội. Dưới góc độ sở hữu, đề tài nghiên cứu Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nguyễn Kế Tuấn (2010) [113] và bài viết Tái cấu trúc quản trị để thúc đẩy cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam của Phạm Đức Trung, Nguyễn Thị Minh Thu (2017) [110] đồng quan điểm vốn nhà nước là một loại tài sản của CSH toàn dân mà Nhà nước là đại diện, vì vậy Nhà nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản này. Dưới góc độ kinh tế, các khái niệm về vốn nhà nước được xây dựng dựa trên nền tảng ngân sách nhà nước, chẳng hạn luận án tiến sỹ Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam của Phạm Thị Thanh Hoà (2012) đưa ra khái niệm vốn nhà nước “là nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước”, “Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành vốn CSH của doanh nghiệp có nguồn gốc ban đầu từ ngân sách nhà nước” [54]. Luận án tiến sỹ Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước của Vũ Thị Nhung (2017) có phạm vi nghiên cứu rộng hơn khi coi “vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh” [77], trong khi đó luận án tiến sỹ Hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa của Trần Xuân Long (2013) lại coi “vốn nhà nước là vốn điều lệ của công ty nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp, sau đó được bổ sung bằng lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kinh doanh được chia tương ứng với phần vốn đầu tư của Nhà nước vào công ty nhà nước và các loại quỹ của công ty” [66].
Phần lớn các nghiên cứu đều đồng nhất rằng, mặc dù khái niệm vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp có thể tiếp cận từ các góc độ khác nhau nhưng đều phát sinh từ sở hữu nhà nước và có nguồn gốc hình thành từ ngân sách nhà nước. Thứ hai, các công trình nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước: Khái niệm DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước được các tác giả nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Mặc dù, các quốc gia trên thế giới có quan niệm và tên gọi không giống nhau về DNNN, tuy nhiên khi xem xét cụ thể khái niệm DNNN tại các công trình nghiên cứu đều đồng nhất về chế độ sở hữu và quyền kiểm soát của nhà nước. Chẳng hạn, World Bank (1999) định nghĩa “DNNN là các thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của chính phủ mà phần lớn thu nhập của nó được tạo ra thông qua việc bán các hàng hóa, dịch vụ [70].
Hay Rees Ray (1989) định nghĩa “DNNN là một tổ chức được sử dụng để chỉ một tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà giá trị của chúng không thuộc về 9 các CSH cá nhân mà thuộc về xã hội” [141]. Hay cuốn sách Guidelines on Corporate Governance of State-owned Enterprises của OECD (2005) cũng xác định “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [135]. Các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến DNNN của OECD như Accountability and Transparency: A Guide for State Ownership (2010) hay Managing Risk in the State-Owned Enterprise Sector in Asia: Stocktaking of National Practices (2018) cũng không có sự thay đổi khác biệt về quan niệm này. Có thể thấy rằng, các nghiên cứu của OECD về DNNN được tiếp cận dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, theo đó, việc xác định một doanh nghiệp có phải là DNNN hay không phải dựa vào tiêu chí quyền kiểm soát mang tính chi phối của CSH nhà nước đối với doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, với chủ trương coi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới góc độ kinh tế, bài viết Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước - một số vấn đề về nguyên tắc và phương pháp tiếp cận của Nguyễn Mạnh Quân (2013) [81], sách chuyên khảo Đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước - Bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Tạ Ngọc Tấn, Lê Quốc Lý (2012) [99] đều cho rằng, DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân với đặc trưng thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu công hữu, và được điều hành, kiểm soát về mọi phương diện bởi nhà nước. Trong khi đó, dưới góc độ pháp lý, các luận án tiến sỹ Pháp luật quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay [75] của Phạm Thị Hồng Nhung (2016), Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước [77] của Vũ Thị Nhung (2017) và Pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước [69] của Lê Na (2019) có sự thống nhất rằng, DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước chiếm chi phối về tỷ lệ sở hữu vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp. Đối với nhóm doanh nghiệp được nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ, nhà nước là CSH duy nhất và có toàn quyền trong việc quyết định sử dụng vốn của doanh nghiệp. Thứ ba, các công trình nghiên cứu có liên quan đến khái niệm giám sát và giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp: Khảo cứu một số công trình nghiên cứu tiếp cận được, nghiên cứu sinh nhận thấy khái niệm giám sát mặc dù được tiếp cận ở nhiều phương diện khác nhau tuy nhiên, thuật ngữ giám sát được sử dụng chủ yếu trong quan hệ giám sát việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật và quan hệ giám sát của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý.
Ví dụ định nghĩa của Từ điển Luật học (2006) “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá 10 nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [118]. Khái niệm giám sát từ đó cũng được phân chia theo quyền của chủ thể giám sát. Chẳng hạn như Yamamoto (2007) định nghĩa: “Giám sát của Quốc hội là việc rà soát, theo dõi và giám sát của chính phủ và các cơ quan công quyền, bao gồm cả việc thực hiện các chính sách và pháp luật” [45]. Sách chuyên khảo Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước của Trương Thị Hồng Hà (2015) đã phân tích cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội, cơ chế thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội và các giải pháp bảo đảm quyền giám sát của Quốc hội [43].
Ở phạm vi rộng hơn, sách chuyên khảo Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay của Đào Trí Úc (2015) đã phân tích cụ thể về giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay [114].