Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND quận; - Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; - Chương 3: Quan điểm, giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN QUẬN 1. Giám sát của Hội đồng nhân dân quận 1. Khái niệm giám sát Có nhiều khái niệm về giám sát, Đại từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội năm 1999 do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [39, tr.
Cũng có khái niệm giám sát mang tính quyền lực nhà nước, là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực, mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [34, tr. Trong khoa học luật học, thuật ngữ giám sát thường được dùng để chỉ chức năng cơ bản của các cơ quan: Quốc hội, HĐND các cấp; cũng nhiều khi dùng để chỉ hoạt động của của Tòa án, các tổ chức chính trị - xã hội và công dân nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động. Với cách quan niệm này, có giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, giám sát của xã hội, giám sát của công dân, giám sát của tòa án (thông qua hoạt động xét xử). Đối với các nhà khoa học, từ góc nhìn quản lý xã hội,quản lý nhà nước thì giám sát là chức năng quản lý xã hội, ở đâu có quản lý ở đó có giám sát; giám sát là một chức năng của xã hội, của nhà nước nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của phápluật.
Tuy nhiên, vẫn có quan niệm rằng, giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực, được thực hiện mang tính chủ động, liên tục, thường xuyên đối với đối tượng chịu sự giám sát nhằm phát hiện những sai phạm trong hoạt động của đối tượng giám sát và áp dụng các biện pháp buộc các đối tượng bị giám sát phải thực hiện nhằm bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng theo một cách chung nhất, có thể thấy giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực KT - XH, trong thực hiện quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, tổ chức, cá nhân. để kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu; xử lý đối với tổ chức, cá nhân có hành vi sai trái. Cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ giám sát có khác nhau nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đó 9 trong việc thực hiện một số công việc, một hoạt động nào đó, hay thực hiện pháp luật có đúng với những yêu cầu đã được xác định hay không, do chủ thể có quyền lực, hay đại diện cho quyền lực thực hiện.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, kiểm tra hoạt động của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi đúng, đủ theo quy định hay không và quy định về hành vi đối tượng giám sát phải và được làm có phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không và làm rõ được nguyên nhân của sự vi phạm, sự không phù hợp này. Giám sát vừa là hình thức, chức năng hoạt động thực thi quyền lực, vừa là phương thức đảm bảo cho quyền lực nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong quản lý nhà nước, giám sát có vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể khẳng định rằng, ở đâu có quyền lực nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có hoạt động giám sát, giám sát để hạn chế lạm dụng quyền lực, tránh vi phạm quyền lực, giám sát để bảo đảm cho quản lý, sử dụng quyền lực đúng pháp luật.
Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND. Trong pháp luật Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ giám sát đã từng bước được cụ thể hóa. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 mới sử dụng thuật ngữ giám sát để quy định hoạt động giám sát của HĐND. Đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, 2003, hoạt động giám sát của HĐND đã được quy định cụ thể hơn, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của HĐND; tuy nhiên Luật tổ chức HĐND và UBND vẫn chưa giải thích rõ ràng, cụ thể thuật ngữ giám sát.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND năm 2015, tại khoản 1, điều 2 giải thích rõ “giám sát” là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát của HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại các kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND. Vậy, theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, Luật Tổ chức HĐND và UBND qua các thời kỳ, nhất là Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND ban hành năm 2015, khẳng định: giám sát là chức năng cơ bản của HĐND,với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, HĐND có quyền áp dụng các biện pháp chế tài khác nhau theo quy định của Hiến pháp, pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Như vậy, giám sát của HĐND là giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, bảo đảm vai trò của HĐND, tạo cơ sở, căn cứ để thực hiện chức năng quyết định các vấn đề ở địa phương tốt hơn.
Từ đó, giám sát của HĐND có thể hiểu: là việc HĐND, thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước 10 cấp trên và nghị quyết của HĐND, từ đó đưa các kết luận và phương án xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vi phạm qua đó góp phần bảo đảm pháp chế, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước ở địa phương, phát huy tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, bảo đảm quốc phòng - an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Chủ thể, đối tượng, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân Chủ thể giám sát của HĐND quận là: HĐND quận, giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HDND. Đối tượng, thẩm quyền giám sát: Theo Điều 5, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 quy định về đối tượng và thẩm quyền giám sát của HĐND là: - HĐND: giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp. - Thường trực HĐND: giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp dưới; giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; giúp HĐND thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của HĐND.
- Ban của HĐND: giám sát hoạt động của TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách. - Tổ đại biểu HĐND: giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, Thường trực HĐND phân công. - Đại biểu HĐND: chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương. Tuy nhiên, ngoài những đối tượng trên, khi xét thấy cần thiết thì HĐND tổ chức giám sát các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.
Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân quận Thứ nhất, Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua các phương thức giám sát của mình HĐND quận sẽ nắm được tình hình thực tế tại địa phương và kiểm soát được các hoạt động của các cơ quan chịu sự giám sát của HĐND để từ đó các cơ quan, cá nhân chịu sự giám sát sẽ hoạt động tốt hơn, chấp hành tốt hơn các chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. Khi các chủ thể này chấp hành tốt các quy định của pháp luật thì tính nghiêm minh của pháp luật sẽ được thực hiện tốt hơn. Bên cạnh đó, thông qua sự giám sát của HĐND thì các chủ thể chịu sự giám sát sẽ hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn.